Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Recherche par mot

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Recherche par lettre
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Recherche par genre:
BouddhasSûtrasNoms-LieuxTermes

Bilingue
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13 

cinq sortes de maîtres du dharma         Ngũ chủng pháp sư    five kinds of authorities of the doctrine    五種法師    
Ceux qui s'adonnent au cinq pratiques merveilleuses : maître qui garde le Dharma, maître de la lecture du Dharma, maître de la récitation du Dharma, maître de l'enseignement du Dharma, maître de la copie du Dharma.


  5 bậc pháp sư hay 5 bậc thầy có khả năng hoằng dương Phật pháp.
1. Thụ tŕ pháp sư: Người có khả năng tiếp nhận, tin tưởng vững chắc và ghi nhớ, giữ ǵn không quên lời dạy của Như Lai được ghi chép trong kinh luận.
2. Đọc kinh pháp sư: Người có khả năng ngồi ngay thẳng, trang nghiêm, giữ tâm chính niệm, mắt xem kinh văn mà tụng đọc mạch lạc, rơ ràng.
3. Tụng kinh pháp sư: Người có khả năng tụng đọc thuộc ḷng kinh văn, không cần phải xem sách mà không nhầm lẫn.
4. Giải thuyết pháp sư: Người có khả năng truyền dạy, giảng giải chính xác kinh điển.
5. Thư tả pháp sư: Người có khả năng biên chép, phiên dịch kinh điển để lưu truyền rộng răi cho đời sau.

Cinq sortes de vision        Ngũ nhăn        五眼    pañca cakṣūṃṣi
Cinq "yeux" tels qu'ils sont cités, notamment, dans le Traité de la grande sagesse de Nagarjuna.

1) Oeil du corps matériel (niku-gen, mamsa-caksus) ; œil physique du simple mortel qui perçoit les couleurs et les formes. Cette vision est souvent erronée car elle ne permet pas de distinguer l'eau de l'alcool, par exemple.

2) Oeil divin (ten-gen, divya-caksus) ou la capacité des êtres célestes dans le monde de la forme à voir sans être limités par l'obscurité ou la distance ; vision qui permet d'appréhender les qualités essentielles des choses. C'est le point de vue des scientifiques qui analysent l'eau comme étant une combinaison d'hydrogène et d'oxygène.

3) Oeil de la sagesse (e-gen, prajna-caksus) ; œil de la sagesse ou la capacité qu'ont les auditeurs-shravakas et les pratyekabuddhas à percevoir la non-substantialité de tous les phénomènes ; approche philosophique des choses, compréhension de l'aspect changeant et interdépendant de tout ce qui est, le symbolisme de l'eau, par exemple.

4) Oeil du Dharma (ho-gen, dharma-caksus) qui permet aux bodhisattvas de pénétrer tous les enseignements afin de sauver les hommes ; c'est la vision de celui qui saisit une réalité au-delà des apparences et c'est l'œil du poète qui voit un ensemble signifiant caché ; pour lui une étendue d'eau est un message.

5) Oeil du Bouddha (butsu-gen, buddha-caksus) est l'œil de la compassion. Le Bouddha saisit la nature réelle de toute vie et peut ainsi trouver le meilleur moyen pour guider vers l'Eveil tous les êtres. L'œil du Bouddha inclut les quatre autres facultés de perception.

  5 con mắt nh́n rơ sự và lư của các pháp.
1. Nhục nhăn, Phạm māṃsa-cakṣus, là con mắt của mọi người, mọi loài ở thế gian, có khả năng nh́n thấy và phân biệt được h́nh sắc, cảnh vật.
2. Thiên nhăn, Phạm divya-cakṣus, con mắt của chúng sinh ở cơi trời, hoặc con mắt của người đời (nhục nhăn) đạt được cảnh giới thiền định; sự vật ở xa, rộng, nhỏ bé, vi tế... đều thấy rơ ràng.
3. Huệ nhăn, Phạm prajña-cakṣus, con mắt trí tuệ, quán chiếu và thấy được lư không của các pháp.
4. Pháp nhăn, Phạm dharma-cakṣus, con mắt trí tuệ nh́n thấy thực tướng của các pháp, có năng lực nh́n thấy pháp duyên khởi, chứng ngộ được thực tướng hư huyễn của các pháp, thấy rơ một cách tường tận nguyên nhân sai biệt của các pháp.
5. Phật nhăn, Phạm buddha-cakṣus, con mắt của Phật, có năng lực chứng tri hoàn toàn chân tính của các pháp.

cinq véhicules        Ngũ thừa    five vehicles    五乗    pañca yāna
cinq véhicules (go-jo, 五乗). Cinq sortes d'enseignements exposés selon les capacités des êtres. Véhicule signifie enseignement amenant à un certain degré de réalisation. Ce sont :
1) celui du commun des mortels ; il permet de renaître sous la forme d'un être humain en honorant les Trois trésors et en observant les cinq préceptes.
2) celui des êtres célestes ; il permet d'atteindre les royaumes célestes par la pratique des dix préceptes de bien et des quatre étapes de méditation ; 3) celui des auditeurs-shravakas ; il permet d'atteindre l'état d'arhat en s'éveillant aux quatre nobles vérités ;
4) celui des pratyekabuddhas ; il éveille à la doctrine des douze liens causaux ;
5) celui des bodhisattvas ; il conduit à l'état de bouddha par la pratique des six paramitas.

  Năm cổ xe chở chúng sinh đến thế giới an vui, giải thoát.
1. Nhân thừa: Quy y Tam bảo và giữ năm giới. Nếu ai nương theo pháp này mà tu hành th́ cũng như lên chiếc xe đi ra khỏi ba đường ác, thẳng đến cơi người.
2. Thiên thừa: Dùng 10 điều thiện, 4 thiền 8 định làm xe, chở chúng sinh vượt khỏi 4 châu cơi người, sinh lên các cơi trời.
3. Thanh văn thừa: Tứ diệu đế là cổ xe chuyên chở chúng sinh vượt qua 3 cơi, đến Niết bàn hữu dư, chứng thành A la hán.
4. Duyên giác thừa: 12 Nhân duyên là cổ xe chuyên chở chúng sinh ra khỏi ba cơi, đến Niết bàn vô dư, thành Bích chi Phật.
5. Bồ tát thừa: Sáu pháp ba la mật, vừa Từ Bi, vừa trí tuệ là cổ xe chuyên chở chúng sinh vượt qua cảnh giới của 3 thừa 3 cơi thẳng đến Đại niết bàn, chứng quả Vô thượng bồ đề.

cinq voiles         Ngũ cái    Five coverings    五蓋     pañca āvaraṇāni
cinq voiles ou cinq obscurcissements (go-gai, 五蓋). Etats d'esprit qui empêchent l'apparition de l'attitude juste : l'avarice, la colère, l'indolence, l'instabilité émotive (excitation/dépression) et le doute. Le tantrisme voit les obscurcissements comme ce qui empêche la reconnaissance de la nature de l'esprit et des phénomènes et donne comme liste : le voile des émotions, le voile du karma, le voile des tendances fondamentales et le voile du connaissable.

  C̣n gọi là Ngũ triền cái.
Triền là trói buộc. Cái nghĩa là che lấp. Ngũ triền cái là 5 thứ phiền năo trói buộc, che lấp tâm tính, làm cho pháp lành không sanh ra được.
1. Tham dục cái (rāga-āvaraṇa): Tham đắm ngũ dục là tài sản, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ không biết nhàm chán nên tâm tính bị che lấp.
2. Sân khuể cái (pratigha-āvaraṇa): Đối trước cảnh trái ư, ḷng tức giận nổi lên làm che lấp tâm tính.
3. Hôn miên cái (styāna-middha-āvaraṇa): Cũng gọi là Thuỵ miên cái. Hôn trầm và buồn ngủ khiến tâm tính li b́, không thể tích cực hoạt động.
4. Trạo cử ác tác cái (auddhatya-kaukṛtya-āvaraṇa): Cũng gọi là Điệu hư cái, Trạo hối cái. Sự chao động của tâm, hoặc lo buồn, ân hận đối với những việc đă làm, khiến tâm tính bi che lấo.
5. Nghi cái (vicikitsā-āvaraṇa): Đối với giáo pháp do dự không quyết đoán, chưa có niềm tin đối với Tam Bảo và cả đối với sự tu tập của bản thân.

colère         Sân khuể    anger    瞋恚    pratigha
colère [monde-état de] (shinni ou shin, 瞋恚・, dvesha, dosa) ou état d'asura. Quatrième des dix mondes-états et l'une des quatre voies mauvaises. Etat dominé par un soi égoïste qui n'a d'estime que pour lui-même et méprise les autres. Une personne dans cette condition est attachée à l'idée de sa propre supériorité et ne peut supporter d'être inférieure à d'autres en quelque domaine que ce soit.

  Sự tức giận. Đối với những người làm trái ư ḿnh mà nổi giận, oán ghét, khiến tâm minh bực bội không yên, th́ gọi là sân.
Sân là chướng ngại rất lớn đối với người tu học Phật pháp, bởi sự tu tạo công đức rất khó, mà chỉ cần một niệm sân hận nổi lên th́ đốt cháy hết cả rừng công đức, cho nên các kinh luận thường hay cảnh giác.

Compréhension juste        Chánh kiến    Right Belief    正見    samyag-dṛṣṭi
Est une compréhension correcte, vraie, rationnelle, authentique, lucide et appropriée. Cette compréhension va permettre les êtres humains de se libérer de leur mode de vie qui est ignorant et irréaliste.

  Là nhận thức đúng đắn, ngay thẳng, chân chánh; là sự hiểu biết sáng suốt và hợp lư. Nhận thức này có tác dụng đưa con người thoát khỏi lối sống mê lầm, điên đảo. Người có Chánh kiến thấy như thế nào th́ nhận đúng như thế ấy, không đổi trắng thay đen, không kỳ thị xấu tốt, không phê phán hay dở. Chánh kiến là sự hiểu biết và nhận thức không bị tập quán, thành kiến, dục vọng hay tâm phân biệt ngăn che và làm sai lạc.
Chánh kiến hay Chánh tri kiến có nghĩa là nhận thức đúng đắn về định luật nhân quả ở thế gian và xuất thế gian; bằng trí tuệ hữu lậu hoặc vô lậu, thẩm định đúng đắn về tánh và tướng của các pháp, xa ĺa nhận thức nhị nguyên.
Định nghĩa theo truyền thống kinh tạng Nikàya và A-hàm th́, Chánh kiến là thấy rơ Tứ thánh đế, thấy rơ duyên khởi, thấy các pháp vô ngă.
Chánh kiến c̣n được ngài Xá-lợi-phất định nghĩa một cách rất đơn giản: phân biệt được bốn loại thức ăn là Chánh kiến; phân biệt được thiện và bất thiện là Chánh kiến; thấy được Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định là Chánh kiến.
Tóm lại, Chánh kiến là nhận chân được sự thật của cuộc đời, thấy được bản chất thực tướng của các pháp. Sự thật của cuộc đời hay bản chất của các pháp là ǵ? Là duyên sinh, vô ngă. Đó là nhận thức hay thế giới và nhân sinh quan của Phật giáo.

Xem bài nói về Chánh kiến


Concentration juste        Chánh định    right concentration    正定    samyaktva-niyata-rāśi
  Định là trạng thái tâm chuyên chú vào một đối tượng, tinh thần tập trung một chỗ, không tán loạn, giữ tâm ở trạng thái vắng lặng, tịch tĩnh, hay nói cách khác Định có nghĩa là trạng thái tâm ư chuyên chú tập trung vào một đề mục, một đối tượng, một biểu thức nhất định nhằm mục đích để cho tâm không bị xao động, tán loạn do những tác động chủ quan và khách quan.
Chánh định là tập trung chân chánh và đồng đều tâm vương và các tâm sở đồng phát sanh vào một đối tượng duy nhất. Như vậy, tâm định là trạng thái tinh thần khi các thành phần của tâm được đặt trên một đối tượng duy nhất một cách đồng đều và chân chánh, không dao động và không phân tán. Chánh định là trạng thái tâm thức vượt thắng mọi sự trói buộc của triền cái, không c̣n bị thúc đẩy hay bị lôi cuốn vào bất cứ một đối tượng nào, luôn luôn giữ được trạng thái tâm thức thăng bằng, an ổn, định tĩnh.


concentration-extatique        Tam-muội    Samādhi    三昧    samādhi
littéralement "l'état de l'esprit qui se contient lui-même" : deux interprétations 1) état de recueillement profond ("recueillement accompli") et exempt de toute pensée obtenu par la méditation ; dans ce sens le dhyana est un moyen pour arriver au résultat qui est samadhi.
2) samadhi = dhyana = concentration de la pensée sur un seul objet avec une grande intensité. Le Sutra Mahaprajnaparamita dénombre 108 samadhi différentes. Le Sutra du Lotus en cite une vingtaine.

  Trạng thái thiền định. Cảnh giới thiền định.
Trong kinh Phật, từ Samādhi được dịch là Đẳng tŕ thời, 'đẳng' là giữ cho tâm được b́nh đẳng an lành, không để cho lao xao, lay động; 'tŕ' là chuyên tâm ở một cảnh, không tán loạn, gọi là Tâm nhất cảnh tính.
Nói chung, việc tu hành cốt yếu là chuyên tâm chú ư ở một chỗ, không để tán loạn mà phài giữ cho tâm an tĩnh, trạng thái này gọi là Tam muội. Khi đạt đến trạng thái Tam muội th́ liền phát khởi trí tuệ mà khai ngộ chân lư.

Conditionné, composé        Hữu vi        有爲    saṃskṛta
Être conditionné ou composé implique l'existence de l'acte de création. Ce terme technique est utilisé pour désigner les phénomènes, les choses qui se forment grâce à l'association des causes et conditions. C'est pour cela qu'on les appelle phénomènes conditionnés ou composés, contrairement aux phénomènes non-composés ou non-conditionnés.

  Hữu vi là có hành vi tạo tác. Thuật ngữ này dùng để chỉ hiện tượng các pháp do nhân duyên hoà hợp mà thành, nên gọi các pháp là Pháp hữu vi, ngược lại với Pháp vô vi.

Conduite méchante        Ác hành    Evil behavior    惡行    
Tous les actes/paroles/pensées méchants, malhonnêtes, malsains, négatifs.


  Hành vi bất lương. Phật giáo đối với tất cả nghiệp bất thiện của thân, ngữ, ư, theo thứ tự gọi là thân ác hành, ngữ ác hành, ư ác hành.

Conscience immaculée        A ma la thức    Immaculate conscience    阿摩羅識    Amala-vijñāna
La plus profonde des neuf consciences; amala signifie "pur" ou "immaculé - et vijnana, "discernement". Les huit consciences énoncées dans la doctrine de l'école Rien-que-conscience consistent dans les six consciences (discernement par les yeux, les oreilles, le nez, la langue, le corps et le mental), la conscience-mana et la conscience-alaya. A celles-ci, l'école She-lun (Shoron), l'école Tiantai (Tendai) et l'école Hua-yan (Kegon) ajoutent une neuvième conscience, définie comme la base de toutes les fonctions vitales. Alors que la conscience-alaya contient des impuretés karmiques, la conscience-amala est pure, exempte de toute souillure et correspond à l'état de bouddha.

  Thức thanh tịnh vô cấu, cũng gọi là thức thứ chín.
Amala có nghĩa là không ô nhiễm, bạch tịnh, vô cấu, thanh tịnh. A-ma-la thức là Thức thanh tịnh, vô cấu.

Conscience receptacle        A lại da thức    Receptacle conscience    阿賴耶識    Adăna vijnăna (Àlaya)
Aussi appelée le réceptacle-alaya des perceptions ou dépôt du karma. Il s'agit de la huitième des neuf consciences. Située à un niveau plus profond que la conscience ordinaire; on l'appelle ainsi parce que tout le karma créé au cours de la vie présente et des vies passées y est emmagasiné. Ce réceptacle-alaya est considéré comme ce qui passe par le cycle de la naissance et de la mort et forme le cadre d'une existence individuelle. Tous les actes et toutes les expériences de la vie qui passent par les sept premiers niveaux de conscience sont accumulés en tant que karma dans ce tréfonds-alaya qui, à son tour, influence le fonctionnement des autres consciences. L'école Rien-que-conscience, qui ne postule l'existence que de huit consciences, soutient que tous les phénomènes proviennent de la conscience-alaya et qu'elle constitue donc l'unique et seule réalité.

  Là một trong tám thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, mạt na, và a lại da). Thức này là gốc rễ của các pháp, cho nên gọi là Bản thức; v́ nó có tác dụng mạnh nhất trong các thức, nên cũng gọi là Thức chủ. Thức này là gốc của vũ trụ vạn hữu, cất chứa muôn vật khiến cho không bị mất mát, nên gọi là Tàng thức. Lại v́ nó là hạt giống có khả năng cất chứa và sinh trưởng muôn vật, nên cũng gọi là Chủng tử thức (thức hạt giống).
Thức A-lại-da. Theo học phái Yogācāra (Du-già hành phái), A-lại-da là cái tâm căn bản.
Trong truyền thống Phật giáo nguyên thuỷ, hệ thống tâm lư chỉ có sáu thức : nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức. Đến thời kỳ Phật giáo đại thừa, đặc biệt là học phái Yogācāra, đă phát hiện ra chỗ thâm sâu bên trong sáu thức có một cái ǵ đó không đoạn tuyệt, chính cái đó dẫn chúng sanh đi đến sanh tử luân hồi, cái đó chính là cái tâm tính căn bản hoạt động liên tục để duy tŕ sinh mạng, gọi là A-lại-da thức. Tuy nhiên, bản kinh xuất hiện sớm nhất nói đến thức A-lại-da là kinh Giải thâm mật.
Từ Ālaya nguyên nghĩa chỉ cho cái kho dùng để cất chứa phẩm vật, nói đầy đủ th́ nó có ba ư nghĩa : tiềm tàng, trữ tạng và chấp trước. Căn cứ vào ba ư nghĩa này, A-lại-da thức có ba đặc tính sau đây :
1. Thức A-lại-da tiềm tàng ở trong thân thể : Thức này được cho là tiềm tàng trong thân thể, nó chính là cái tâm có tính căn nguyên duy tŕ và chi phối sự sống của thân thể ; nó tồn tại trong mỗi thân thể và hoạt động liên tục trong khi thức và cả khi ngủ.
2. Thức A-lại-da là cái kho cất giữ những hạt giống (chủng tử) : Thức A-lại-da c̣n có tên là Nhất thiết chủng tử thức (thức của tất cả mọi hạt giống), bởi v́ nó là chỗ lưu trữ tất cả mọi hạt giống (hạt giống h́nh thành từ những lời nói, hành động và suy nghĩ, tức là ba nghiệp thân, khẩu, ư). Nghiệp quá khứ biến thành chủng tử và được huân tập trong thức A-lại-da, sau đó, khi gặp điều kiện th́ nó phát sinh ra nghiệp mới, nghiệp mới này lại tiếp tục tạo ra những chủng tử mới. Do v́ Thức hiện hành (tức là những tâm tính biểu hiện ở lớp ngoài) và Thức A-lại-da (tức là những tâm tính tiềm ẩn ở lớp sâu bên trong) có mối quan hệ hỗ tương nhân quả với nhau (chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử) để duy tŕ sự sống liên tục nên đă h́nh thành nên thuyết A-lại-da duyên khởi.
Tuy nhiên, học phái Yogācāra giữ lập trường ‘tất cả đều do Thức A-lại-da tạo ra’, nên chủ trương thuyết Duy thức.
Thức a-lại-da không những sản sinh ra Nhăn thức, cho đến thức thứ bảy là Thức mạt-na, mà nó cũng đồng thời sản sinh ra thân thể và thế giới tự nhiên (tức là khí thế gian), và nó giữ ǵn, duy tŕ sự tồn tại liên tục của chúng.
3. Thức a-lại-da là đối tượng bị chấp trước: Thức Mạt-na chấp trước Thức a-lại-da làm tự ngă. Thức a-lại-da sinh diệt trong từng sát-na, tuyệt đối không thường tồn và cũng không phải là một cái ngă chủ tể, nhưng từ Thức a-lại-da lại sản sinh ra Thức mạt-na, và thức này lại chấp Thức a-lại-da làm tự ngă của nó, một cái ngă thường hằng và chủ tể.
Thức a-lại-da, tức Tàng thức, được phân ra làm ba phần, là Năng tàng, Sở tàng và Chấp tàng.
- Năng tàng là chỉ cho chức năng thu chứa chủng tử.
- Sở tàng tức là chính những chủng tử đă huân tập các pháp đă được cất chứa.
- Chấp tàng tức là cái Thức đă bị Mạt-na chấp trước.
Thức A-lại-da c̣n có nhiều tên khác, như Nhất thiết chủng thức (Thức của tất cả các hạt giống), Dị thục thức, A-đà-na thức, Vô cấu thức… Trong đó, Thức vô cấu (A-mạt-la thức) là chỉ cho trạng thái Thức a-lại-da khi không bị ô nhiễm, vô cấu, thanh tịnh. Nghĩa là, từ trong Thức a-la-da, diệt trừ mọi chủng tử nhiễm ô, khiến cho Thức a-lại-da chuyển hoá thành Thức cực kỳ thanh tịnh, gọi là Đại viên cảnh trí.
Kinh điển Nguyên thuỷ ghi rằng: “Chúng sanh ái A-lại-da, lạc A-lại-da, hoan A-lại-da, hỷ A-lại-da… cho nên khó ngộ nhập được lư duyên khởi” (Kinh Trung bộ). Kinh lại nói: “Như Lai nói không phải pháp A-lại-da, nhưng chúng sanh cứ cung kính chấp giữ nó, trụ tâm ở đó để cầu giải thoát” (Kinh Tăng chi – Trong Nhiếp đại thừa luận, Vô Trước đă dẫn chứng ư nghĩa của câu kinh này để kiến lập chỗ sở tri).
Xem bài nói về A lại da thức


Contemplation, Fixation        Định        定    samādhi
  Một trong ba môn học của Phật giáo (Giới – Định – Tuệ).
Dịch âm là Tam-muội, Tam-ma-địa hoặc Thiền-na.
1. Chỉ tâm chuyên chú vào một đối tượng mà phát sinh tác dụng tinh thần không tán loạn. Luận Câu-xá coi tâm sở Định là một trong Mười đại địa pháp; Duy thức tông xem tâm sở Định là một trong Năm tâm sở biệt cảnh.
2. Chỉ cho người do tu hành hoặc do nghiệp báo mà đạt được Định. Tông Câu-xá phân biệt có hai loại Định là Hữu tâm định và Vô tâm định.
- Vô tâm định có hai loại là Vô tưởng định và Diệt tận định.
+ Vô tưởng định là Định của phàm phu và ngoại đạo, do nhận thức sai lầm trạng thái vô tưởng là niết-bàn chân thật, nên họ tu tập Định này.
+ Diệt tận định là Định của bậc Thánh, vượt xa trạng thái Vô tưởng định, đạt đến cảnh giới hoàn toàn tịch diệt, gọi là Vô dư niết-bàn giới.
- Hữu tâm định gồm Tứ tĩnh lự và Tứ vô sắc, gọi chung là Bát định.
Định của Tứ tĩnh lự và Tứ vô sắc là ngay tại nơi cơi Dục tán loạn này mà tu tập, lần lượt đoạn trừ hạ địa phiền năo, đạt được Định tâm, nhờ đó sanh lên trời Tứ tĩnh lự ở Sắc giới hoặc trời Tứ vô sắc, gọi là Sanh tĩnh lự.
Trong mỗi Định tĩnh lự đều có Cận phần định làm tiền phương tiện cho nó, tức là giai đoạn chuẩn bị vào Định. Tứ tĩnh lự và Tứ vô sắc gọi là Định căn bản. C̣n trong Cận phần định th́, Cận phần của Sơ tĩnh lự (trước khi vào Sơ thiền) gọi là Vị chí định (tức là chưa vào Định), bảy giai đoạn chuẩn bị vào Định c̣n lại th́ gọi là Cận phần định.
Ngoài ra, giữa Cận phần định của Sơ tĩnh lự và Đệ nhị tĩnh lự có giai đoạn trung gian, gọi là Trung gian tĩnh lự hoặc Trung gian định; người nào tu tập Định này th́ được sanh lên Trời Đại phạm.
Như vậy, nói một cách tổng quát th́ Định gồm có: Tứ tĩnh lự, Tứ vô sắc (tám Định căn bản), 7 Định cận phần, Vị chí định và Trung gian định.
Phật giáo căn cứ vào sự có mặt hay không có mặt của hai tâm sở Tầm và Tứ mà phân chia thành ba loại Định:
1. Tam-ma-địa có Tầm có Tứ: Vị chí định và Sơ tĩnh lự.
2. Tam-ma-địa không Tầm có Tứ: Trung gian định.
3. Tam-ma-địa không Tầm không Tứ: Nhị thiền trở lên.
Căn cứ vào tính chất của Định, người ta phân ra ba loại Định như sau:
1. Vị định (āsvādana-samādhi, āsvādana-samāpatti): sự thưởng thức các vị ngọt của các định, c̣n gọi là Vị đẳng chí. Vị đẳng chí, là khi định có vị ngọt. Nghĩa là, hành giả đam mê trạng thái hỷ lạc của định mà ḿnh chứng đắc, bị ngưng trệ trong đó, không tiến lên được.
2. Tịnh định (samāpatti): Là định tâm không bị chi phối bởi vị ngọt, nên hành giả có thể tiến lên các cấp cao hơn, c̣n gọi là Tịnh đẳng chí, là Định tương ưng với tâm thiện hữu lậu mà khởi.
3. Vô lậu định (anāsrava-samāpatti): c̣n gọi là Vô lậu đẳng chí, là Định của bậc Thánh nương tựa, đắc được Vô lậu trí, có tác dụng đoạn trừ phiền năo rất mạnh. Vô lậu đẳng chí, là định mà các Thánh giả vận dụng để diệt trừ hoặc nhiễm.
Xem thêm Chánh Định


coproduction conditionnée, interdépendance des phénomènes         Duyên khởi    dependent origination, conditioned genesis, dependent co-arising    縁起    pratītya-samutpāda
Dépendance causale (ou conditionnée) de tout ce qui est. Doctrine bouddhique selon laquelle aucun être ou phénomène n'existe tout seul ; ils existent ou se produisent en raison de leur rapport avec d'autres êtres et phénomènes. Tout dans le monde n'a d'existence qu'en réponse aux causes et aux conditions.

Les 12 maillons de la coproduction conditionnée sont:
1. L'ignorance (avidyā, avijjā) ;
2. Les formations mentales (samskāra, sankhāra) ;
3. La conscience discriminante (vijñāna, vinnāna) ;
4. Le nom et la forme, les phénomènes physiques et mentaux (nāma-rūpa);
5. Les six « sphères » sensorielles (sadāyatana, salāyatana) ;
6. Le contact (sparśa, phassa) ;
7. La sensation (vedanā) ;
8. La soif (tṛṣna, tanhā);
9. L'attachement, l'appropriation (upādāna).
10. Le devenir (bhava).
11. La naissance (jāti).
12. La vieillesse et la mort : (jarā-maraṇa).


  Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên (các điều kiện) hoà hợp mà thành, lí này gọi là duyên khởi. Tức là bất cứ sự vật ǵ trong thế giới hiện tượng đều nương vào những điều kiện nhân duyên mà sinh khởi, tồn tại, biến hoá (vô thường), và tiêu diệt. Đó là pháp tắc mà đức Phật đă chứng ngộ được. Như 12 chi duyên khởi đă được giải thích rơ trong các kinh điển A hàm: Vô minh là duyên của hành, hành là duyên của thức, cho đến sinh là duyên của già, chết; "v́ cái này có nên cái kia có, cái sinh nên cái kia sinh", để chỉ bày rơ lư sinh tử nối nhau, đồng thời cũng nêu rơ lí "cái này không th́ cái kia không, cái này diệt th́ cái kia diệt" để đoạn trừ vô minh chứng Niết bàn. Lư Duyên khởi này là sự chứng ngộ thành đạo của đức Phật. Đối với luận điểm của các tôn giáo khác ở Ấn độ chủ trương cái "ta" (ngă), và các pháp đều có tự tính thực tại, đức Phật đă bác bỏ hết và tuyên bố rằng, vạn hữu đều nương vào nhau mà tồn tại, không có tự tính độc lập. Ngài dùng nguyên lư duyên khởi để giải thích nguồn gốc của thế giới, xă hội, nhân sinh và sự sản sinh của những hiện tượng tính thần, mà kiến lập nhân sinh quan và thế giới quan riêng và là đặc trưng lớn nhất của Phật giáo khác hẳn với các tư tưởng, triết học và tôn giáo khác.

Corps formel non-apparu        Ẩn một tướng    Non-appeared definite body    隱沒相    
Un des corps formels du Bouddha. La vie d'un Bouddha est infinie mais ce corps est temporairement se cacher.

  Một trong 5 loại tướng của Báo thân Phật. Phật sống lâu vô tận, nhưng tạm thời ẩn khuất mà không hiện h́nh.

Cycle des renaissances        Luân hồi        輪迴    saṃsāra
  Là ṿng sinh tử liên tục, như bánh xe quay ṿng. Chúng sanh do tạo nghiệp (tham, sân, si), chết trong kiếp này, rồi lại sanh vào kiếp khác, hệt như cái bánh xe, cứ quay ṿng măi măi trong ba cơi.

derniers jours du Dharma        Mạt pháp    latter dharma    末法    saddharma-vipralopa
derniers jours du Dharma ou derniers jours de la Loi (Fin du Dharma, Loi finale, Dharma final, mappo, 末, mofa, saddharma vipralopa, pascimadharma). Dernière des trois périodes qui suit la mort du bouddha Shakyamuni et qui voit le bouddhisme sombrer dans la confusion et l'enseignement de Shakyamuni perdre son pouvoir de mener les gens à l'Eveil. Elle durerait dix mille ans et plus. Selon le Chugan Ron Sho et le Hokke Genron, les derniers jours du Dharma commencent deux mille ans après la mort du Bouddha. Leur début correspond aussi à la cinquième des cinq périodes de cinq cents ans qui suivent la mort du Bouddha et qui sont décrites dans le Sutra Daishutsu. Celui-ci prédit que cette cinquième période sera un Age de conflits (tojo kengo) au cours duquel des moines mépriseront les préceptes et se disputeront entre eux, des points de vue hérétiques prévaudront, et le bouddhisme de Shakyamuni périra. Au contraire, le Sutra du Lotus voit les Derniers jours, quand l'enseignement de Shakyamuni perd de son pouvoir de rédemption, comme le moment où l'essence du Sutra du Lotus, transmise au bodhisattva Jogyo lors de la Cérémonie dans les airs, se propagera. Zhiyi affirme : "Lors de la cinquième période de cinq cents ans, le Dharma merveilleux se répandra et sera un bienfait pour l'humanité longtemps à l'avenir." Et d'après Saicho : "Les Jours du Dharma correct et les Jours du Dharma formel sont presque finis, les Derniers jours sont proches." (Shugo Kokkai Sho) Bien que des recherches modernes tendent à situer la mort du Bouddha vers 500 avant notre ère, la tradition bouddhique la situe en 949 avant notre ère, ce qui amène les bouddhistes japonais à penser que les Derniers jours du Dharma avaient commencé en 1052.

  Thời kỳ cuối cùng của Phật pháp, bấy giờ những lời dạy của Phật bị mất dần, không c̣n người hiểu và hành tŕ đúng chính pháp, cho đến lúc mất hết hoàn toàn. Đồng nghĩa với Mạt thế, Mạt đại.
Phật pháp tồn tại ở thế gian được chia làm ba thời kỳ: Chính pháp, tượng pháp và mạt pháp.
1. Chính pháp: Giáo pháp của Phật c̣n nguyên vị. Sau khi Phật nhập niết bàn, giáo pháp ở đời, nếu nương theo giáo pháp mà tu hành th́ liền được chứng quả, gọi là chính pháp.
2. Tượng pháp: Phật pháp không c̣n nguyên vị, chỉ tương tự mà thôi. Giai đoạn này, giáo pháp tuy có và người tu hành cũng nhiều nhưng không có người chứng quả.
3. Mạt pháp: Giáo pháp của Phật bị tà ma ngoại đạo lợi dụng, xen tạp vào; kinh điển được chú thích, giảng giải tuỳ tiện... làm mất hết hương vị chính pháp. Tuy có nhiều người đi tu, nhiều người quy y Tam bảo nhưng không có ai thực hành theo lời Phật dạy.

deux véhicules        Nhị thừa    two vehicles    二乘    paramārtha-yāna
deux véhicules (nijo, 二乘). On appelle véhicule l'enseignement et les pratiques susceptibles de représenter une voie permettant de réaliser l'Eveil bouddhique. Le terme, fort commode de nijo s'applique à deux notions.
1) Les enseignements exposés pour les auditeurs-shravakas (shomon) et les pratyekabuddhas, (engaku). Le véhicule des auditeurs-shravakas conduit à l'état d'arhat grâce à l'enseignement des Quatre nobles vérités et les pratyekabuddhas grâce à l'enseignement des douze maillons de la chaîne de causalité. Ces enseignements des deux véhicules constituent ensemble le bouddhisme theravada.
2) Les personnes des septième et huitième des dix mondes-états. Les enseignements provisoires Mahayana, qui formulent la voie de bodhisattva, condamnent les êtres des deux véhicules parce qu'ils ne recherchent que leur propre Eveil sans se préoccuper d'aider les autres, et affirment qu'ils ne pourront jamais atteindre la boddhéité. Le Sutra du Lotus enseigne le véhicule unique de l'état de bouddha et identifie les trois véhicules précédents comme des moyens pour mener les êtres humains à la boddhéité. L’idéal humain établi par les qualités des êtres de ces deux véhicules est présenté comme un moyen habile et graduel utilisé par le Bouddha pour faire progresser ses disciples. Les principaux représentants de ses deux véhicules, tels le disciple Shariputra, se voient prédire leur accession à l’Eveil. A cet égard, comparé à d’autres sutras du Mahayana, le Lotus reconnaît aux auditeurs-shravakas et pratyekabuddhas la capacité d’accéder à l’Eveil mais pas cependant au travers des pratiques propres à ces deux véhicules (nijo jobutsu). Cette nuance est importante.
3) Plus rarement, deux véhicules désigne le Mahayana et le Theravada.

  Thừa (yāna), là công cụ vận chuyển như xe cộ, thuyền bè... Giáo pháp của Phật giống như thuyền bè đưa chúng sinh qua biển sinh tử có hai loại khác nhau, nên gọi là Nhị thừa.
1. Tiểu thừa và Đại thừa: Giáo pháp do Phật giảng dạy suốt cuộc đời của Ngài có thể phân thành hai loại là Tiểu thừa và Đại thừa. Những giáo pháp Phật dạy cho hàng Thanh văn, Duyên giác gọi là Tiểu thừa; giáo pháp Phật dạy cho hàng Bồ tát tu hành thành Phật gọi là Đại thừa.
2. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa: Trong giáo pháp Tiểu thừa phân thành hai loại: 1, Nếu trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, y theo lư Tứ đế tu tập mà đạt được giác ngộ, gọi là Thanh văn thừa; 2. Không được trực tiếp nghe Phật thuyết pháp, tự ḿnh quán chiếu lư 12 nhân duyên mà đạt được giác ngộ, gọi là Duyên giác thừa.
3. Nhất thừa và Tam thừa: Trước khi đức Phật giảng kinh Pháp hoa, đức Phật đă phương tiện dẫn dắt cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát tu tập chứng quả theo ba cách khác nhau, gọi là Tam thừa. Đến thời kỳ thích hợp, Phật giảng kinh Pháp hoa, trong pháp hội này, đức Phật đem cả ba thừa đă giảng trước đây quy về một mối, để đưa tất cả chúng sinh đều thành Phật, gọi là Phật thừa, hay Nhất thừa.

Deuxième niveau d'expérience méditative        Nhị thiền    Second meditation    二禪    Dvitīya-dhyāna
Le deuxième niveau d'expérience méditative comprend 4 états:
- Conserver son calme inférieur
- Avoir la joie
- Avoir le bonheur
- Unifier le sujet et l'objet

  Tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm.
Người chứng Nhị thiền tâm định trong sáng, cảm nhận hỷ lạc, nên gọi là Định sinh hỷ lạc.

Dédicace        Hồi hướng        回向    pariṇāma
Puissent tous les êtres obtenir le bonheur et les causes du bonheur.
Puissent tous les êtres être séparés de la souffrance et des causes de la souffrance.
Puissent-ils connaître le bonheur parfait qui est sans douleur.
Et vivre dans l’équanimité, sans attachement ni aversion en croyant à l’égalité de tout ce qui vit.

  Từ những việc thiện, công đức mà ḿnh đă làm, trải tâm Từ Bi trực tiếp đến những người khác để những người này được hưởng cùng.

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.



Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13