Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Recherche par mot

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Recherche par lettre
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Recherche par genre:
BouddhasSûtrasNoms-LieuxTermes

Bilingue
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13 

enfer        Địa ngục    hell    地獄    naraka
L'un des Cinq Destinations (Cinq Voies vers lesquelles vont les êtres vivants) ou Six Destinations (Six Voies vers lesquelles vont les êtres vivants), ou Dix Mondes (Dix endroits où les êtres vivants existent). C'est là où les êtres subissent les souffrances après avoir créé des karmas-actes néfastes, comme des meutres, vols, mauvais actes sexuels...
Selon le Sûtra Dirghagama, tome 19 et le Sûtra Cosmologie Bouddhiste, tome 2, l'enfer se trouve autour des grandes mers, entre la montagne Grand Diamant et la montagne Grand Diamant 2. Le Sûtra de la Matrice de la Terre dit aussi qu'il existe l'enfer dans la montagne Cakravada (montagne de fer).



  Một trong Ngũ thú (Ngũ đạo, năm đường chúng sinh đi đến) hay Lục thú (Lục đạo, sáu đường chúng sinh đi đến), hay Thập giới (mười cơi chúng sinh tồn tại). Là nơi chịu đau khổ của chúng sinh tạo các nghiệp ác, như giết hại, trộm cướp, gian dâm...
Theo kinh Trường A hàm quyển 19 và phẩm Nê lê (nê lê là đọc theo tiếng Phạm, có nghĩa là địa ngục) trong kinh Đại lâu thán quyển 2, th́ địa ngục ở chung quanh biển lớn, ở khoảng giữa núi Đại kim cương và núi núi Đại kim cương thứ hai.
Kinh Địa tạng c̣n cho biết trong núi Thiết vi cũng có địa ngục.

Enfer Infini        A tỳ địa ngục    Infinite hell    阿鼻地獄    Avīci
enfer avici ou enfer aux souffrances incessantes ou enfer des souffrances sans rémission (abi, 阿鼻地獄, mukenjigoku, 無間地獄, avici ou avichi, appelé également grande citadelle des souffrances sans fin, (abi-daijode, 阿鼻大城 ou mukendaijo, 無間大城). Dans la cosmologie indienne, c'est le plus terrible des huit enfers de feu. Ceux qui y tombent souffrent sans connaître le moindre répit et renaissent avec un karma qui les mène de nouveau en enfer. Y tombent ceux qui commettent les cinq fautes cardinales. Pour Nichiren, c'est l'enfer de ceux qui détruisent l'enseignement du Sutra du Lotus, refusant d'admettre que l'état de bouddha est inhérent à toute vie, le situant en dehors de soi et accessible par des pratiques magiques. Sur le plan psychologique, c'est l'impasse à laquelle on aboutit en voulant détruire l'autre pour un problème qui n'est dû qu'à soi.

  Địa ngục vô gián. Vô gián có nghĩa là không có thời gian gián đoạn. Các chúng sinh chịu khổ ở địa ngục này đều không thể kham nổi những cực h́nh như bị rang, rán... v́ đau đớn quá mà kêu gào, cho nên, nơi đây c̣n được gọi là A tỳ hoán địa ngục (địa ngục kêu gào không dứt). Những kẻ phạm tội ngũ nghịch chắc chắn sẽ đoạ vào địa ngục này, chịu khổ cho đến khi thế giới này hoại th́ sang thế giới khác để chịu khổ tiếp.

Enseignement merveilleux        Đốn giáo    Marvellous method of education    頓教    
1. Sur le contenu des discours: cet enseignement de Dharma aide les pratiquants à obtenir rapidement le fruit de la Bouddhéité en accomplissant le bodhicitta; ou il permet aux pratiquants d'accéder directement à l'état de Bouddha, d'où son nom d'Enseignement merveilleux au résultat rapide.
2. Sur la forme des discours de dharma: Face aux personnes ayant des bases pour un éveil rapide, dès le début, on leur parle directement de la méthode d'enseignement profond et merveilleux, appelée l'Enseignement merveilleux au résultat rapide.

  1. Về nội dung nói pháp: Giáo pháp giúp hành giả chứng được quả vị Phật một cách nhanh chóng mà thành tựu bồ-đề, hoặc là giáo pháp khiến người tu hành vượt lên liền đến quả Phật, gọi là Đốn giáo.
2. Về h́nh thức nói pháp: Đối với căn cơ đốn ngộ, th́ ngay từ đầu, nói thẳng vào giáo pháp sâu xa vi diệu, gọi là Đốn giáo.

Enseignement particulier        Biệt giáo     Separate teaching    別教    
L'enseignement particulier de la branche Véhicule Simple. L'aspect transcendant du Véhicule simple, cela transcende complètement la vue des Trois Véhicules.

  Một trong bốn giáo hoá pháp: Tạng, Thông, Biệt, Viên, do tông Thiên Thai thành lập. Giáo lư riêng của Nhất thừa. Khía cạnh siêu việt của Nhất thừa, hoàn toàn siêu việt cả ba thừa.
Biệt giáo tuyên nói ư chỉ trong các kinh Đại thừa riêng cho hàng Bồ tát, như kinh Hoa nghiêm v.v...

esprits affamés        Ngạ quỷ    Hungry ghost    餓鬼     preta
esprits affamés ou esprits faméliques (gaki, 餓鬼, ou heirei 薜茘, preta). Deuxième des dix mondes, des trois et des quatre mauvaises voies. Etat dans lequel on est à la merci d'un désir insatiable de nourriture, de richesse, de gloire, de pouvoir, ou de tous autres objets ou conditions. Dans cet état, on est consumé physiquement et spirituellement par un besoin impossible à satisfaire. On en attribue les causes à des tendances telles que l'avidité, la mesquinerie et la jalousie. Aux débuts du bouddhisme, le royaume des preta était considéré comme un lieu concret, situé à cinq cents yojanas sous la terre, où les êtres étaient affectés en rétribution d’actes graves et de dépossession d’autrui. Au même titre que les damnés de l’enfer, les preta dépendaient de l’autorité du roi Yama. Le Abidatsuma junshori Ron décrit trois sortes d'esprits affamés, voraces et faméliques, chacune étant sous-divisée en trois. Ces sortes de démons tenaillés par la faim peuvent représenter un danger pour les vivants. Leur apparence est repoussante. Ils sont "...nus, noirs, faibles, hauts et grands, dévorés par la faim, cherchant de la nourriture et faisant entendre çà et là des cris lamentables. Quelques uns ont la bouche comme le trou d’une aiguille, d’autres ont une tête de bœuf ; semblables pour la taille à des chiens plutôt qu’à des hommes, ils vont, les cheveux en désordre, poussant des cris et dévorés par la faim."(réf.). Ils incarnent donc une condition inférieure et douloureuse où l’être n’est mu que par un désir incontrôlable, ils sont hagards et incapables même de reconnaître ce qui pourrait étancher la terrible soif qui les torture. Le Sutra Shobonenjo dénombre 36 sortes d'esprits faméliques.

  Quỷ đói. Là một trong 3 đường ác, một trong 5 hay 6 đường mà chúng sinh sẽ đi đến tuỳ theo nghiệp của ḿnh đă tạo. C̣n có tên là Quỷ đạo, Quỷ thú, hay Ngạ quỷ đạo. Loài quỷ này thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn.

Essence des phénomènes est Vacuité        Đương thể tức không        當體即空    
Tous les phénomènes conditionnés n'ont pas besoin d'être détruits dans son mode d'existence pour être appelés Vacuité, mais même quand ils demeurent ici, au présent, ils sont déjà Vacuité. Puisque les phénomènes conditionnés naissent des causes et conditions, ils sont comparables à un songe, à un jeu d'illusionnisme, et n'ont pas de nature propre. Quand on pratique un tel regard profond, alors on peut voir que les phénomènes sont Vacuité ici même au présent, et cette pratique est appelée Contemplation de la Nature de Vacuité.
L'essence des phénomènes conditionnés est Vacuité: ils n'ont pas de nature propre et séparée, ni n'existent indépendamment, ni ne durent éternellement parce que tous les phénomènes apparaissent grâce à la réunion de causes et conditions. Ils s'appuient les uns sur les autres pour exister et changent continuellement.
Par exemple: Les nuages sont Vacuité. Même s'ils sont en train de voler dans le ciel, ils sont toujours Vacuité et pas seulement quand on attend qu'ils s'évaporent pour les considérer comme Vacuité. De cette manière, la Vacuité ne signifie pas qu'il n'y a "pas de nuage", mais parce que les nuages, par eux-mêmes n'ont pas de nature propre et séparée, ni ne se créent de par eux-mêmes, mais ils existent en raison des causes et conditions, c'est-à-dire à partir de la rencontre entre la vapeur d'eau et l'air froid.

  Tất cả các pháp hữu vi không cần phải đợi đến khi nó hoại diệt sự thể mới gọi là Không, mà ngay khi sự thể nó đang hiện hữu đây đă là Không rồi. Bởi v́ các pháp hữu vi do nhân duyên mà sinh, nó như giấc mộng, như tṛ ảo thuật, không có thật tính. Khi quán chiếu như vậy th́ thấy các pháp là Không ngay nơi thực tại, gọi là Thể không quán.
Tính chất của các pháp hữu vi là KHÔNG: không có tự thể riêng biệt, không tồn tại độc lập, không tồn tại măi măi, bởi v́ các pháp đều do nhân duyên kết hợp mà có, nương vào nhau mà tồn tại và luôn thay đổi.
Ví dụ: Đám mây là không. Dù cho đám mây đang bay trên bầu trời, th́ nó vẫn đang là không như thường chứ không phải chờ cho mây tan rồi mới nói là không. Không như vậy không có nghĩa là 'không có đám mây', mà bởi v́ đám mây tự nó không có tự tánh riêng biệt, nó không tự sinh ra, mà nó có mặt do nhân duyên, tức do hơi nước gặp không khí lạnh mà có.

Essence des phénomènes est Vacuité        Vô trước         無著    Asaṅga
  Vô trước (Asaṅga), sống vào khoảng 310-390, tổ sư phái Du-già hành (Yogācāra).
Ông là người Kiền-đà-la (Gandhāra), Bắc ấn. Ông cùng với người em là Thế thân, là hai nhân vật lịch sử trọng yếu của Phật giáo Ấn độ.
Lúc đầu, Vô trước xuất gia theo bộ phái Hoá địa (Mahiśāsaka, có thuyết nói là Tát-bà-đa bộ, Sarvāstivāda), nhưng sau một thời gian tu học ông nhận thấy giáo nghĩa của bộ phái này chưa thật sự được đầy đủ. Sau đó, ông theo học với La-hán Tân-đầu-lô (Piṇḍola) tu học phép Quán không của Tiểu thừa, mặc dù có sở đắc, nhưng ông chưa thoả măn.
Về sau, tương truyền, ông lên trời Đâu-xuất gặp Bồ-tát Di-lặc để học tập nghĩa Không của Đại thừa, từ đó ông mới thấy an tâm, đồng thời ngộ nhập được phép Quán không của ‘Duy thức vô cảnh’. Nơi Bồ-tát Di-lặc, Vô trước học được rất nhiều kinh luận Đại thừa.
Từ đó về sau tại Ấn độ mới thạnh hành pháp môn Đại thừa Pháp tướng duy thức, Thế thân trở thành một luận sư vô cùng trọng yếu trong nền triết học tư tưởng Phật giáo tiếp nối sau ngài Long thọ.
Vô trước là người đặt nền móng cơ bản và cũng là người chủ trương hoằng dương Pháp tướng duy thức tại Ấn độ. Căn nguyên của Pháp tướng duy thức học, theo như lời giới thiệu của Vô trước, là từ cuốn Du-già sư địa luận mà Bồ-tát Di-lặc giảng dạy cho ông.
Vô trước c̣n biên soạn Nhiếp đại thừa luận (Mahāyāna-saṃgraha), Hiển dương thánh giáo luận (Prakaraṇāryavācā-śāstra), Thuận trung luận, Kim cương kinh luận…


Équanimité        Xả        捨    Upekṣā
  1. Gọi đủ là hành xả: Buông bỏ, tức không vướng mắc, không bám víu vào bất thứ ǵ.
2. Cũng gọi là Xả thụ, Bất khổ bất lạc thu (Aduḥkhāsukha-vedanā): Chỉ cho cảm giác ấn tượng của ư thức không khổ, không vui, là một trong ba loại cảm thụ.

États de contemplation        Thiền chi    Jhanangani - Full concentration states    禪支    Jhānangāni
Il y a 4 niveaux d'expériences méditatives qui sont réparties en 18 états de contemplation:
1. Le premier niveau d'expérience méditative comprend 5 états:
- Être conscient quel est l'objet de méditation
- Concentrer sur l'objet de méditation
- Avoir la félicité, la joie ou l'enchantement
- Sentir le bonheur
- Établir l'unification entre le sujet et l'objet
2. Le deuxième niveau d'expérience méditative comprend 4 états:
- Conserver son calme inférieur
- Avoir la joie
- Avoir le bonheur
- Unifier le sujet et l'objet
3. Le troisième niveau d'expérience méditative comprend 5 états:
- Développer l'équanimité
- L'établissement de l'attention
- La sagesse
- Le bonheur
- L'unification du sujet et objet
4. Le quatrième niveau d'expérience méditative comprend 4 états:
- Ni souffrance, ni bonheur
- L'équanimité
- L'établissement de l'attention
- L'unification du sujet et objet

  Thiền là thiền định. Chi là chi phần. Bốn thiền định có tất cả là 18 chi; Sơ thiền gồm 5 chi: Tầm (Giác), Từ (Quán), Hỷ, Lạc, Nhất tâm. Nhị thiền gồm 4 chi: Nội tịnh, Hỷ, Lạc, Nhất tâm; Tam thiền có 5 chi: Xả, Niệm, Tuệ (Trí), Lạc, Nhất tâm; Tứ thiền có 4 chi: Bất khổ bất lạc, Xả, Niệm, Nhất tâm.

éveillé pour soi         Duyên giác    enlightened by contemplation on dependent arising    緣覺    Pratyekabuddha
pratyekabuddha (éveillé pour soi ou éveillé par liens karmiques, hyakushibutsu ou engaku ou dokkaku ou byakushibutsu, 縁覚・独覚・辟支仏). 1. Celui qui perçoit la vérité des douze maillons de la chaîne de la causalité ou qui s'éveille à la loi de l'impermanence en observant les phénomènes naturels. Zhiyi réserve le terme de "personne dans l'état de réalisation" ou engaku (éveillé par la perception des relations causales) aux pratyekabuddhas qui vivent à l'époque de l'apparition d'un bouddha et s'éveillent à la vérité des douze maillons de la chaîne de la causalité, se libérant ainsi de l'illusion. Il utilise le terme dokkaku ("éveillés par eux-mêmes) pour les pratyekabuddhas qui vivent à une époque où il n'existe aucun bouddha et qui s'éveillent sans maître à la vérité de l'impermanence par l'observation des phénomènes naturels.

  Bích chi phật. Cũng gọi Độc giác, Duyên nhất giấc, Nhân duyên giác.
Chỉ cho người tu hành ngộ đạo một ḿnh. Tức bậc Thánh ở đời không có Phật, không thầy chỉ dạy, một ḿnh ngộ đạo, ưa sự vắng lặng, không thích thuyết pháp giáo hoá.
Thanh văn và Duyên giác gọi là Nhị thừa, nếu cộng thêm Bồ tát nữa th́ là Tam thừa.


êtres        Chúng sinh    sentient being    衆生    bahu-jana, jantu, jagat, sattva
êtres (shujo, 衆生, sattva), littéralement, la multitude de ce qui est né. Autrement dit, tous ceux qui, par naissance, sont liés de façons multiples à la précarité et au cycle perpétuel des vies et morts.

  Chỉ loài hữu t́nh sống trong cơi mê muội, bị trôi lăn trong sinh tử luân hồi.

êtres sensitifs ou êtres émotionnels         Hữu t́nh    sentient being    有情     sattva
Existences dotées d'affectivité (animaux, hommes). Terme opposé à hijo, 非, non-sensitifs, ce qui est dénué de sentiments et de conscience, par exemple les minéraux. Le bouddhisme n'établit pas de séparation nette entre les deux catégories donnant pour exemple les formes primitives de vie à la limite du règne minéral et végétal ou de plantes qui se comportent comme des animaux. L'absence de coupure entre sensitifs et non sensitifs amène à la conception d'un état de bouddha latent dans les plantes.

  Chúng sinh có t́nh cảm.

Facteurs de perturbation        Phiền năo        煩惱    kleśa
désirs terrestres ou détresses émotionnelles (bonno, 煩悩, klesha, kilesa). Terme générique désignant tous les phénomènes de la vie (y compris les désirs et les illusions en général) qui sont cause de souffrance spirituelle et physique, et font obstacle à la recherche de l'Eveil. La racine du sanskrit klis signifie "ce qui fait souffrir". Ce qui cause la souffrance c'est l'émergence des désirs qui entraînent l'incapacité d'une pensée lucide et cohérente. Ce qui déclenche l'enchaînement des douze liens causaux, est l'ignorance fondamentale, origine de toutes les passions. Notons qu'en français, "passion" dérive du latin patior, souffrir, l'étymologie est similaire à pâtir. Les textes bouddhiques français optent aussi souvent pour le terme générique de défilements de la pensée, mettant l'accent sur les représentations mentales qui accompagnent les désirs, les textes orientaux, et particulièrement l'école Tian tai, parle de détresse émotionnelle.
Le Sutra Vatthupama définit ainsi les klesha : "On appelle défilement de l'esprit la convoitise et avarice, la mauvaise volonté, l'hostilité, le dénigrement, la domination, l'autosatisfaction, la jalousie, l'hypocrisie, la fraude, l'entêtement, la présomption, la vanité, l'arrogance, la négligence". Mais ils sont classés de diverses façons selon les écrits et les écoles. Le Daichido Ron explique que les trois poisons que sont l'avidité, l'arrogance et l'ignorance engendrent tous les autres désirs. Le Joyuishiki Ron, compilé par Dharmapala, les divise en deux catégories, fondamentaux et dérivés. Les dix désirs fondamentaux comprennent les cinq passions trompeuses que sont l'avidité, la colère, l'ignorance, l'arrogance et le doute, et les cinq points de vue erronés. A cela s'ajoutent vingt dérivés qui naissent des désirs fondamentaux et les accompagnent comme, par exemple, l'irritabilité, la rancune et la méchanceté qui proviennent de la colère. Zhiyi les classe dans les trois catégories d'illusions :1) Les illusions de la pensée et du désir ; 2) Les illusions innombrables, aussi nombreuses que des grains de sable et de poussière ; 3) Les illusions sur la véritable nature de l'existence.
Dans le bouddhisme du Theravada, le but est d'arriver à l'extinction des passions par annihilation afin de parvenir à un Eveil pur, "sans résidu". La pensée du Mahayana ne se départit pas aussi simplement des passions. Elle remarque en elles la force primordiale des désirs qui sont l'aliment de l'action humaine et elle entend l'utiliser pour l'accomplissement de la voie bouddhique. Voir les désirs s'identifient à l'Eveil et Aizen et également l'article sur les détresses émotionnelles.

  C̣n gọi là Tuỳ miên.
Những phiền năo tiềm phục bên trong th́ gọi là Tuỳ miên. Những phiền năo biểu hiện ra bên ngoài th́ gọi là Triền.
Phiền năo là những tác dụng tâm lư làm cho thân, tâm năo loạn, buồn rầu, bức rức, khó chịu; khiến cho thân, tâm không được b́nh tĩnh.
Nhập A-t́-đàm luận, quyển thượng, ghi : ‘Cái ǵ làm cho thân tâm buồn rầu, bức rức, phiền muộn, bức năo liên tục th́ gọi là Phiền năo, cũng gọi là Tuỳ miên’.
Đại T́-bà-sa luận , quyển 60, Câu-xá luận, quyển 20, đều nói rằng, tất cả những Phiền năo đều do ba thứ sức mạnh sau đây mà khởi, đó là nhân lực, cảnh giới lực và gia hành lực. Những Tuỳ miên là những Phiền năo tiềm phục, ẩn sâu bên trong tâm thức chưa đoạn trừ hay ḿnh chưa nhận biết hết là nhân lực (sức mạnh của cái (nguyên) nhân). Cảnh giới trước mắt thuận theo ḷng tham muốn là cảnh giới lực (sức mạnh của ngoại cảnh). Duyên theo cảnh giới mà khởi lên phi lư tác ư là gia hành lực.
Phiền năo có rất nhiều loại, nhưng một cách tổng quát th́ có hai loại, gọi là Mê lư và Mê sự. Mê lư tức là Kiến hoặc, chỉ cho trạng thái u mê không thấy được lư Tứ đế, là loại phiền năo mà khi đạt được địa vị Kiến đạo th́ ḿnh sẽ đoạn trừ hết (kiến đạo sở đoạn). Mê sự tức là Tu hoặc, chỉ cho trạng thái u mê sự tướng vạn vật, bị cảnh giới bên ngoài làm cho bức rức, phiền năo, khi đến địa vị Tu đạo th́ đoạn trừ hết phiền năo này (tu sở đoạn).
Trong Kiến hoặc và Tu hoặc có 6 loại phiền năo căn bản, là tham, sân, si, mạn, nghi và kiến, gọi là Căn bản phiền năo, hoặc gọi là Lục tuỳ miên. Trong 6 phiền năo căn bản này, th́ phiền năo kiến gồm có 5 loại, là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, gọi là Ngũ lợi sử ; c̣n các phiền năo tham, sân, si, mạn, nghi gọi là Ngũ độn sử. Như vậy, tổng cộng có 10 sử, gọi là Thập căn bản phiền năo hay Thập tuỳ miên ; Ngũ lợi sử chỉ thuộc về Mê lư, c̣n Ngũ độn sử thuộc th́ mê cả Lư lẫn Sự.

Fautes qui exigent l'expiation        Ba dật đề    Crimes which requires expiation    波逸提    Pāyattika
Les moines et les nones bouddhistes doivent respecter les préceptes. Ceux qui commettent les fautes, doivent les réparer en manifestant leur regret.

  Là một trong những giới luật mà các tỳ kheo và tỳ kheo ni phải giữ. Nếu không giữ giới này th́ sẽ phạm tội nhẹ, có nghĩa là khi phạm các điều tội lỗi, nếu chịu sám hối th́ có thể diệt được tội, nếu không sám hối th́ sẽ rơi vào ngả ác.

force de l'autre        Tha lực    other-power    他力    
force de l'autre (tariki, 他力) Notion du salut obtenu grâce à une force extérieure (Amida, dharani, guru, etc.) à laquelle Nichiren oppose jiriki, 自力, la force intérieure qui niait de la pratique et qui permet à tout homme de s'éveiller à sa propre nature de bouddha.

  Chỉ cho năng lực ở ngoài bản thân, thường dùng để nói nguồn năng lượng của chư Phật và Bồ tát gia hộ, che chở cho chúng sinh.
Kinh Bồ tát Địa Tŕ nói: “Có 4 sức mạnh, tự lực, tha lực, nhân lực và phương tiện lực. Bồ tát tự ḿnh phát tâm bồ đề, gọi là tự lực. Khiến cho người khác phát tâm, gọi là tha lực. Đời trước đă tích luỹ căn lành với giáo pháp Đại thừa, đời nay vừa thấy h́nh Phật, Bồ tát, hoặc nghe người ta tán thán Tam bảo, liền phát tâm tu tập, gọi là nhân lực. Ở ngay hiện đời thường thân cận với thiện tri thức, thường nghe pháp, siêng tu việc thiện, gọi là phương tiện lực”.
Kinh Đại bảo tích cũng nói: “Tự ḿnh phát tâm tu tập để đạt đến Vô thượng chính đẳng chính giác, gọi là tự lực; khuyến khích, hướng dẫn người khác cùng phát tâm tu tập như ḿnh, gọi là tha lực”.

Gautama Siddharta (prince)        Tất Đạt Đa (thái tử)        悉達多    Siddhārtha
  Tên của Đức Phật khi c̣n là Thái tử con vua Tịnh Phạn.
Khi Đức Phật đản sinh làm trưởng tử của vua Tịnh phạn thành Ca Tỳ La Vệ, tiên A Tư Đà xem tướng biết vị Vương tử này nhờ các thiện căn công đức ở đời trước nên có đầy đủ tướng tốt thù thắng, có năng lực thành tựu tất cả việc lành. Nếu Vương tử ở nhà th́ chắc chắn sẽ làm Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia th́ sẽ thành Vô thượng chánh giác. V́ thế, để biểu thị ư nghĩa nói trên, nên Thái tử được đặt tên là Tất đạt đa: Thành tựu tất cả mọi điều tốt đẹp.

Grand Eveil         Đại giác    great enlightenment    大覺    
Grand Eveil (Daikaku, 大覺) désigne le Bouddha Shakyamuni. Encore appelé Véritable Éveil. Les êtres ordinaires n'ont pas l'Éveil. Les Sravakas et les Bodhisattvas ont l'Éveil mais pas assez grand. Uniquement les Bouddhas, parfaitement éveillés, qui voient les véritables formes et matières des phénomènes, comprennent profondément les origines des phénomènes. D'où le nom Grand Éveil.
Par ailleurs, les Sravakas peuvent pratiquer par eux-mêmes pour atteindre l'éveil (l'éveil par soi), mais ne peuvent pas aider les autres (l'éveil pour autrui). Quant aux Bodhisattvas, ils ont à la fois l'éveil par soi et la capacité d'accomplir l'éveil pour autrui mais n'atteignent pas encore le stade de perfection; seuls les Bouddhas sont parvenus à la perfection de l'éveil par soi et l'éveil pour autrui. C'est pour cela que le terme Grand Éveil leur est désigné.



  Chỉ sự giác ngộ của Đức Phật. Cũng gọi là Chính giác, Đại ngộ. Phàm phu th́ chẳng có giác ngộ. Thanh văn, Bồ tát có giác ngộ, nhưng sự giác ngộ đó chưa lớn. Duy chỉ có Phật là giác ngộ được thật tướng của các pháp, triệt để thấy suốt nguồn gốc của các pháp, cho nên gọi là Đại giác.
Mặt khác, Thanh văn tuy có thể tự ḿnh tu tập đạt được giác ngộ (tự giác), nhưng không thể giúp người khác giác ngộ (giác tha); Bồ tát có tự giác và cũng có khả năng giác tha, nhưng chưa đạt đến viên măn; duy chỉ có Phật là tự giác, giác tha đều đạt đến viên măn, cho nên gọi là Đại giác.

Grand Véhicule        Đại thừa    Great Vehicle    大乘    Mahāyāna
Yāna signifie moyen de transport, comme le véhicule, le bateau...Le Mahāyāna est comparé aux enseignements du Bouddha tels un grand véhicule capable de transporter les êtres vivants d'une rive (les afflictions) à l'autre (la libération).
Selon les sûtras Agama, Mahāyāna est le terme utilisé pour qualifier avec vénération les paroles du Bouddha. Quelque temps après son entrée dans le Nirvana, le Bouddhisme du Nord de l'Inde se développait vigoureusement à tous les niveaux et se considérait comme étant le Bouddhisme Mahayaniste ou Bouddhisme Développé. Alors que le terme Bouddhisme Theravadin, ou Bouddhisme Primitif, désignait le courant bouddhiste du Sud de l'Inde en raison du mode de vie cloisonné, peu évolué et non associé à son époque de la communauté religieuse.
Sous l'angle du développement des pensées historiques, nous remarquons cependant que le Theravada est le fondement des pensées Mahayanistes.

  Thừa (yāna), là công cụ vận chuyển như xe cộ, thuyền bè... Đại thừa dụ cho giáo pháp của Đức Phật như chiếc xe lớn, có khả năng chuyên chở chúng sanh từ bờ phiền năo đến bờ giải thoát.
Trong các Kinh A hàm, Đại thừa là từ dùng để tôn xưng những lời dạy của đức Phật.
Sau khi Phật nhập Niết-bàn một thời gian, Phật giáo ở phương bắc Ấn độ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt nên tự xưng là Phật giáo Đại thừa, hay Phật giáo phát triển; trong khi đó, để chỉ cho Phật giáo ở phương nam Ấn độ, vốn sinh hoạt khép kín trong cộng đồng tăng lữ, ít đổi mới và không hoà nhập với thời đại, người ta gọi là Phật giáo Tiểu thừa, hay Phật giáo nguyên thuỷ. Đứng về phương diện phát triển của tư tưởng sử mà nhận xét, th́ Tiểu thừa là nền tảng của tư tưởng Đại thừa.

Grande Assemblée        Đại chúng    Great Assembly    大眾     Mahāsaṃgha
Un grand nombre de moines, de moniales, de pratiquants laïcs, de pratiquantes laïques, d'êtres célestes...se rassemblent dans un lieu afin de pratiquer, d'écouter le Dharma, de réciter des sutras, de réciter des textes sur les préceptes (pratimoksa)...

  Số đông các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, chư thiên... tập họp ở một nơi để tu tập, nghe pháp, tụng kinh, bố tát...

Grande compassion        Đại bi    Great compassion    大悲    mahākaruṇā
La compassion signifie avoir la commisération et aider les personnes qui souffrent. Voyant les êtres vivants souffrir, les Bouddhas et les Bodhisattvas ressentent une compassion illimitée, ils n'ont pas le cœur de les laisser immergés dans le cycle de la vie et la mort, contraints par toutes sortes de souffrances, et ont sans hésitation émis le vœu de les sauver, cela s'appelle l'esprit de Grande Compassion. Le Nirvana Sutra écrit: 'Tous les Bouddhas des trois temps prennent la Grande Compassion pour base, car s'ils n'avaient pas d'esprit de grande compassion, ils ne pourraient être appelés Bouddha'.
L'esprit de grande compassion des Bouddhas et des Bodhisattvas (Grande compassion, la commisération extrêmement grande).
La grande compassion est l'un des 18 pouvoirs particuliers des Bouddhas (voir Phénomène non-commun).
La grande compassion est également l'esprit de compassion dans les Quatre esprits incommensurables (Quatre esprits incommensurables: Amour bienveillant - Compassion – Joie altruiste - Équanimité), comme c'est écrit dans l'Avatamsaka Sutra : ‘Il existe 10 sortes d'esprit de grande compassion’ ; le Sutra de la Pluie du Dharma écrit également : ‘Le Bouddha a 32 esprits de grande compassion’.
La grande compassion ont des significations suivantes :
Le Mahavibhasa-sastra écrit : ‘Éradiquer tout ce qui accroît les souffrances et malheurs des êtres vivants est appelé Grande Compassion ; cela veut dire: supprimer toute souffrance depuis le monde des enfers, le monde des esprits avides et celui des animaux, leur permettant de s'en échapper, de demeurer en sécurité dans le monde céleste ou dans celui des humains pour jouir de la paix et de la joie.
Par ailleurs, tirer les êtres vivants des bourbiers s'appelle Grande compassion ; c'est-à-dire, face aux êtres sensibles vivant immergés dans le marécage des facteurs mentaux perturbateurs, le Bouddha tend le bras de l'authentique Dharma pour les sortir de ce lieu-là, puis, les installe en toute sécurité dans la Grande Voie pour qu'ils réalisent le fruit de la Voie.
En outre, remettre aux êtres sensibles le bien et le bienfait signifie Grande compassion ; c'est à dire, le Bouddha enseigne aux êtres vivants que éradiquer les trois mauvais actes, pratiquer les trois merveilleux actes, semer les graines de dignité, de richesse, de bonheur permettent de récolter les fleurs et les fruits de la grande dignité, de la grande richesse, du grand bonheur, d'avoir une belle apparence physique que tout le monde aime regarder, avec un teint satiné, éclatant et pur, ou de devenir roi, ou Indra (roi céleste du monde du Désir), ou Brahma (roi céleste du monde de la forme), ou Bramacarin (pratiquant selon le livre des sages), jusqu'à une éventuelle renaissance au royaume céleste le plus élevé, ou alors de semer des graines de Trois véhicules, permettant d'atteindre le Nirvana de l'éveil... Toutes les actions ci-dessus sont accomplies grâce à la force de l'Esprit de Grande Compassion.
Appelé Grande compassion car cet amour a cinq grandes catégories suivantes :
1. Grande fortune : car cet esprit prend l'accomplissement de grands mérites et de grande sagesse pour possession.
2. Grande vertu : car cet esprit possède une force qui permet, à l'intérieur des trois types de souffrance, de supprimer toutes les afflictions .
3. Condition élargie : car cet esprit prend les êtres vivants des trois mondes comme l'objet de son amour.
4. Grande égalité : car cet esprit s'éloigne de l'idée de différenciation entre ennemi et ami, répandant amour et bénéfice partout sur l'ensemble des êtres sensibles.
5. Haut degré : cet esprit est l'esprit suprême.
L'esprit de Grande compassion et l'esprit de compassion ont 8 catégories de différenciation :
1. La nature propre différente : la grande compassion se sert de la non-ignorance (c'est-à-dire la sagesse) comme nature ; la compassion se sert de la non-aversion comme nature.
2. L'effet vertueux différent : l'effet vertueux de la grande compassion concerne les trois types de souffrance ; celui de la compassion concerne la souffrance renforcée par la souffrance.
3. La condition différente : la grande compassion a les trois mondes pour objet ; la compassion n'a que le monde du Désir comme objet.
4. Le lieu d'appui différent : la grande compassion s'appuie sur les quatre Jhanas (états de concentration méditative), la compassion s'appuie sur les quatre Brahmalokas.
5. Le corps d'appui différent : la grande compassion a pour appui le corps du Bouddha ; la compassion a pour appui le corps du Deuxième véhicule.
6. Le fruit de réalisation différent : la grande compassion se sépare des facteurs mentaux perturbateurs ou atteint la réalisation au royaume céleste le plus élevé ; la compassion se sépare des facteurs mentaux perturbateurs ou atteint la réalisation dans le monde du Désir.
7. Le secours différent : la grande compassion a la force de secourir et d'accomplir toutes les choses ; la compassion n'a que l'espoir de secourir.
8. L'altruisme différent : la grande compassion est l'esprit d'amour égal ; la compassion ne sauve que les êtres sensibles malheureux dans le monde du Désir.

  Bi nghĩa là thương xót và cứu giúp những người đau khổ. Chư Phật và Bồ tát thấy chúng sanh đau khổ ḷng xót thương vô hạn, không nở để chúng sinh ch́m đắm trong sinh tử, bị muôn thứ khổ đau bức bách, nên liền phát nguyện cứu vớt tất cả chúng sanh, gọi là Đại bi tâm. Kinh Niết bàn nói: 'Ba đời chư Phật đều lấy đại bi làm gốc, nếu không có tâm đại bi th́ không thể gọi là Phật'.
Tâm đại bi mẫn của Phật và Bồ-tát (đại bi mẫn t́nh thương xót vô cùng to lớn).
Đại bi là một trong 18 năng lực đặc biệt của Phật (xem mục Bất cộng pháp).
Đại bi cũng chính là Bi tâm trong Bốn tâm vô lượng (Tứ vô lượng tâm từ - bi – hỷ - xả), như trong Kinh Hoa nghiêm nói : ‘có 10 loại tâm đại bi’ ; Kinh Bảo vũ cũng nói : ‘Phật có 32 tâm đại bi’.
Đại bi có các nghĩa sau đây :
Luận Đại tỳ-bà-sa nói : ‘Nhổ sạch những ǵ làm tăng tưởng nỗi khổ nạn của chúng sanh th́ gọi là Đại bi ; nghĩa là, bạt trừ mọi khổ đau từ trong cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, khiến cho giải thoát ra ngoài, an trí chúng ở vào cảnh giới trời người hưởng thọ an vui.
Lại nữa, kéo chúng sanh ra khỏi bùn lầy gọi là Đại bi ; nghĩa là, chúng sanh hữu t́nh đang bị ch́m đắm trong bùn lầy phiền năo, Phật đưa cánh tay chánh pháp kéo chúng sanh ra khỏi bùn lấy ấy, rồi đem chúng an trí vào trong Thánh đạo để chứng Đạo quả.
Lại nữa, trao cho chúng sanh hữu t́nh nghĩa và lợi gọi là Đại bi ; nghĩa là, Phật dạy chúng sanh đoạn ba ác hạnh, tu ba diệu hạnh, gieo trồng hạt giống tôn quư, giàu sang, hạnh phúc th́ gặt hái được hoa trái đại tôn quư, đại giàu sang, hạnh phúc, h́nh sắc xinh đẹp, mọi người ai cũng ưa nh́n, da dẻ mịn màng, tươi sáng và thanh tịnh, hoặc làm Luân vương, hoặc làm Đế thích, hoặc làm Phạm vương, hoặc làm Phạm chí, cho đến có thể sanh lên trời Hữu đảnh, hoặc lại gieo trồng hạt giống Tam thừa, dẫn đến Bồ-đề Niết-bàn… Tất cả mọi việc làm trên đều nhờ vào oai lực của Tâm đại bi.
Gọi là Đại bi v́ t́nh thương này có năm thứ to lớn sau đây :
1. Tài sản lớn : V́ tâm này lấy sự thành tựu đại phước đức, đại trí tuệ làm tư lương.
2. Hạnh tướng lớn : V́ tâm này có năng lực ở trong ba thứ khổ mà bạt trừ hết mọi thống khổ.
3. Sở duyên lớn : V́ tâm này lấy chúng sanh trong ba cơi làm đối tượng thương yêu.
4. B́nh đẳng lớn : V́ tâm này xa ĺa ư niệm phân biệt oán thân, thương yêu và làm lợi ích trùm khắp chúng sanh hữu t́nh.
5. Thượng phẩm lớn : Tâm này là tâm tối thượng.
Tâm đại bi và Tâm bi có 8 loại khác nhau :
1. Tự tánh khác : Tâm đại bi lấy vô si (tức trí tuệ) làm thể ; Tâm bi lấy vô sân làm thể.
2. Hạnh tướng khác : Hạnh tướng của Tâm đại bi là ba thứ khổ ; hạnh tướng của Tâm bi là khổ khổ.
3. Sở duyên khác : Tâm đại bi lấy ba cơi làm đối tượng ; Tâm bi chỉ có ở Dục giới.
4. Y địa khác : Tâm đại bi nương vào Tứ thiền, Tâm bi nương vào Tứ tĩnh lự.
5. Y thân khác : Tâm đại bi nương vào thân Phật ; Tâm bi nương vào thân Nhị thừa.
6. Chứng đắc khác : Tâm đại bi ĺa phiền năo hoặc ở trời Hữu đỉnh mà chứng đắc ; Tâm bi ĺa phiền năo hoặc ở Dục giới mà chứng đắc.
7. Cứu tế khác : Tâm đại bi có năng lực cứu tế thành tựu mọi việc ; Tâm bi chỉ hy vọng là cứu tế được mà thôi.
8. Ai mẫn khác : Tâm đại bi là tâm thương yêu b́nh đẳng ; Tâm bi chỉ cứu giúp chúng sanh hữu t́nh đau khổ ở Dục giới.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13