Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Recherche par mot

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Recherche par lettre
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Recherche par genre:
BouddhasSûtrasNoms-LieuxTermes

Bilingue
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13 

sept arrogances         Thất mạn        七慢    
sept arrogances (shichi-man, 七慢). D'après l'Abhidharma kosa sasrta (Kusha Ron) de Vasubandhu, c'est : 1) croire qu'on est supérieur aux autres alors qu'on est leur égal ; 2) croire qu'on est égal à ceux qui sont supérieurs ; 3) croire qu'on est supérieur à ceux qui sont supérieurs ; 4) être attaché à ceux pour qui la vie individuelle est une entité permanente alors qu'elle est la combinaison provisoire des cinq agrégats ; 5) croire que l'on a atteint une vérité alors qu'on ne l'a pas encore perçue ; 6) croire qu'on est juste un peu inférieur à ceux qui en fait nous dépassent de beaucoup ; 7) feindre de posséder une vertu qu'on n'a pas encore. Voir également les neuf arrogances



  7 loại tâm lư thể hiện sự cao ngạo, tự măn, gồm:
1. Mạn: Đối với người kém hơn ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người bằng ḿnh th́ nghĩ ḿnh bằng họ. Cái tâm lư này xem ra rất tự nhiên, không thể nói là xấu, thế nhưng, khi tâm lư này biểu hiện, nó thường có ư cao ngạo, v́ vậy mà không tốt.
2. Quá mạn: Đối với người bằng ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người hơn ḿnh, nghĩ ḿnh bằng họ.
3. Mạn quá mạn: Đối với người hơn ḿnh, nghĩ họ thua ḿnh.
4. Ngă mạn: Cho năm uẩn là ta, của ta.
5. Tăng thượng mạn: Chưa chứng quả mà tự cho ḿnh đă chứng quả, chưa đoạn trừ hết phiền năo mà nói ḿnh đă hết phiền năo.
7. Tà mạn: Không có đức độ, lại buông lung làm việc ác, mà tự cho ḿnh có đức độ.
Những người nào có tâm mạn nói trên, nếu không theo học với bậc thiện tri thức, không hành đạo xuất ly, th́ không bao giờ thoát khỏi sinh tử luân hồi.

Sept bijoux, trésors        Thất bảo     Seven jewels, tresors    七寶    Sapta ratnāni
Les sept trésors, bijoux précieux :
- Or (suvaṇṇa/ suvarṇa),
- Argent (rūpīya/ rūpya),
- Béril (veluriya/ vaiḍurya),
- Perle (phalika / sphaṭika),
- Émeraude (masāragalla/ musāragalva),
- Rubis (lohitanka/ lohitamukæika),
- Agate (asama/ aśmagarbha).

  Bảy thứ ngọc báu quư giá ở thế gian. Các kinh nói về bảy thứ báu khác nhau. Theo Kinh A-di-đà và luận Đại trí độ, bảy thứ báu là vàng, bạc, lưu li, pha-lê, xa cừ, xích châu và mă năo. Theo kinh Pháp hoa quyển 4, bảy thứ báu là vàng, bạc, lưu li, xa cừ, măn năo, chân châu, mai khôi.

sept bodhyanga        Thất giác chi        七覺支    saptabodhyaṇgāni
sept bodhyanga (shichi-kakushi ou shichi-bodaibun, 七覚支・七菩提分). Sept facteurs d'aide à la pratique pour atteindre l'éveil ; sept capacités que le pratiquant est appelé à développer. Ce sont :
1) mémoire : capacité de garder présent à l'esprit ses décisions par rapport à la pratique ; souvenir lucide de son passé ; 2) discrimination : capacité de distinguer le vrai du faux ; capacité de faire le tri de ses propres illusions ; 3) effort : autodiscipline qui permet de surmonter le découragement et la paresse ; 4) joie : capacité de se réjouir des bienfaits de la pratique ;
5) légèreté : capacité de ne pas considérer les épreuves de la vie comme un fardeau insurmontable, facilité avec laquelle on retrouve la paix intérieure ; 6) méditation : capacité de garder un esprit concentré et imperturbable ;
7) équanimité : capacité d'abandonner ses attachements.



  Thất giác chi, tiếng Phạm saptabodhyaṇgāni: Bảy pháp tu hành hướng đến quả vị giác ngộ. Trong 7 khoa phần của 37 phẩm đạo, 7 pháp này thuộc khoa phần thứ 6. Tên gọi đầy đủ là Thất đẳng giác phần, hoặc Thất biến giác chi, c̣n gọi là Thất bồ đề phần, Thất giác phần, Thất giác ư, Thất giác…
1. Trạch pháp giác chi, Phạm dharma-pravicaya-sambodh-yaṅga: Trạch có nghĩa là lựa chọn, dùng trí tuệ quán sát các pháp để phân biệt pháp nào chân thật, pháp nào giả dối, để không bị lầm lẫn nắm giữ những pháp hư nguỵ để tu tập.
2. Tinh tiến giác chi, Phạm virya-sambodh-yaṅga: Tinh là không tạp nhiễm, là thanh tịnh; tiến là không gián đoạn. Đối với sự tu tập, luôn luôn nỗ lực tinh tiến, không bao giờ lười biếng hay có ư niệm bỏ cuộc. Nhưng sự nỗ lực tinh tiến này hoàn toàn có trí tuệ, không nỗ lực làm những việc vô ích, như khổ hạnh ép xác, mà nỗ lực tinh tiến trong chánh pháp, chuyên tâm nhất ư, không dừng nghỉ.
3. Hỷ giác chi, Phạm prīti-sambodh-yaṅga: Hỷ là vui vẻ, hoan hỷ. Tâm khế ngộ với pháp chân thật cho nên đạt được niềm an vui, hạnh phúc; biết rơ pháp này không phải là pháp điên đảo, do đó càng vui thích hơn khi được an trú trong chính pháp.
4. Khinh an giác chi, Phạm praśrabahi-sambodh-yaṅga: C̣n gọi là Trừ giác chi. Trừ có nghĩa là đoạn trừ, cắt đứt. Tức là đoạn trừ tất cả mọi nhận thức sai lầm, phiền năo và ḿnh biết rơ ḿnh đă đoạn trừ được tất cả các pháp hư nguỵ, thiện căn càng tăng trưởng trong chính pháp.
5. Xả giác chi, Phạm upekṣā-sambodh-yaṅga: Xả là từ bỏ, tức là từ bỏ tất cả những nhận thức, những vướng mắc, tham muốn ngoại cảnh, nhận biết rơ ràng ḿnh không c̣n theo đuổi hay nhớ nghĩ đến các pháp hư nguỵ, không thật.
6. Định giác chi, Phạm samādhi-sambodh-yaṅga: Định là thiền định, tức là khi hành giả tu tập đạt được thiền định th́ phát sinh khả năng nhận biết ở trong các thiền không có phiền năo, vọng tưởng.
7. Niệm giác chi, Phạm smṛiti-sambodh-yaṅga: Niệm là ghi nhớ, tức là hành giả tu tập các pháp, phát sinh khả năng nhận biết, ghi nhớ các pháp khiến cho định và tuệ bằng nhau, không hôn trầm, không trạo cử.

sept bouddhas du passé         Quá khứ thất phật        阿彌陀經    
sept bouddhas du passé (kako-shichi-butsu, 過去七仏). Shakyamuni et les six bouddha qui l'ont précédé. Bibashi (Vipashyin), Shiki (Shikhin), Bishabu (Vishvabhu), Kuruson (Krakucchanda), Kunagon (Kanakamuni) et Kasho (Kashyapa). Les trois premiers sont censés être apparus dans le kalpa de gloire passé, alors que les quatre autres, y compris Shakyamuni, sont apparus dans le kalpa actuel de la sagesse. Ils sont mentionnés dans le Sutra Jo-agon et le Sutra Shichibutsu (Sutra des Sept Bouddhas). Le chapitre VIII du Sutra du Lotus y fait également allusion.


  7 đức Phật xuất hiện trong quá khứ, đó là:
1. Phật T́ bà thi, Vipaśyin.
2. Phật Thi khí, Śikhin.
3. Phật T́ xá phù, Viśvabhū.
4. Phật Câu lưu tôn, Krakucchanda.
5. Phật Câu na hàm mâu ni, Kanakamuni.
6. Phật Ca diếp, Kāśyapa.
7. Phật Thích ca mâu ni, Sākyamuni.

sept désastres        Thất nạn        七難    
sept désastres (shichinan, 七難). D'après le Sutra Ninno, ce sont :
1) manifestations extraordinaires du soleil et de la lune ; éclipses, saisons décalées, couronnes autour du soleil, lunes rousses répétées.
2) mouvements extraordinaires des étoiles et des planètes ; changements imprévus dans les constellations, courses inhabituelles des étoiles, apparition de comètes.
3) incendies ; ceux qui embrasent une ville entière avec mort d'hommes, ceux d'origine inexplicable (oeuvre des démons) ; ceux provoquées par les dragons (eau prenant feu), ceux provoqués par des objets lumineux venus de l'espace (feu du ciel) ; ceux provoqués par les dieux des montagnes (irruptions volcaniques), incendies humains (accidents provoquant mort d'hommes), feux des forêts, incendies allumés par des brigands.
4) intempéries répétées ; crues hors saison, pluies torrentielles en hiver, gel en été, pluies de poussière, pluies noires ou rouges, avalanches, coulées de boue.
5) tempêtes ; vents provoquant mort d'hommes, déracinant les arbres, typhons, tsunami, vents de poussière.
6) sécheresse ; chaleur extrême qui assèche les points d'eau, craquelle la terre et rend impossible la germination des plantes.
7) guerre ; attaques de l'extérieur par des pays étrangers, invasions, rébellions, luttes intestines.
Ces désastres peuvent être remplacés par sept vertus :1) Vertu d’apaiser les mauvais esprits et les dragons 2) Vertu de permettre le salut des hommes 3) Vertu des joyaux du roi tournant la roue 4) Vertu de pouvoir faire tomber de la pluie douce 5) Vertu de la lumière éclairant le ciel et la terre 6) Vertu de faire apparaître tous les enseignements du Bouddha 7) Vertu de faire apparaître chez tous les souverains le Dharma inégalable.
Le Sutra du Lotus (chapitre Kannon XXV) dresse également la liste de sept désastres auxquels on peut échapper grâce au pouvoir du bodhisattva Kannon : 1) le feu 2) les inondations 3) les démons rakshasa 4) les attaques à coups de sabres et de bâtons 5) l'attaque par les démons yaksha et autres démons 6) l'emprisonnement 7) l'attaque par des pillards.

  7 loại tai nạn.
I. Theo Kinh Nhân vương bát nhă, 7 nạn là:
1. Nhật nguyệt thất độ nạn: Mặt trời, mặt trăng vận hành không đúng theo quĩ đạo, có khi mặt trời màu đỏ, khi màu đen, khi không có ánh sáng.
2. Tinh tú thất độ nạn: Tinh tú vận hành không theo quĩ đạo, xuất hiện nhiều sao lạ hay các sao không di chuyển sai vị trí...
3. Hoả tai nạn: Hoả hoạn bùng phát, thiêu rụi vạn vật.
4. Vũ thuỷ biến dị nạn: Sóng thần, tan băng, mực nước tăng nhấn ch́m vạn vật.
5. Ác phong nạn: Gió độc nổi lên, thổi đến đâu th́ chúng sinh, sông núin cây cỏ... đều chết hết.
6. Càn dương nạn: Hạn hán kéo dài, trăm loài thảo mộc đều khô héo, ngũ cốc không thể sinh sản.
7. Ác tặc nạn: Giặc cướp nổi loạn, khủng bố, bốn phương đều có quân phiến loạn, phần tử cực đoan khiêu chiến, khiến chiến tranh bùng nổ.
II. Theo Kinh Dược sư lưu ly quang như lai bổn nguyện công đức, 7 nạn là: 1. Dịch bệnh, 2. Chiến tranh, 3. Nội loạn, 4. Xuất hiện tinh tú quái dị, 5. Nhật thực, nguyệt thực thường xuyên, 6. Gió mưa thất thường, thời tiết thay đổi, 7. Hạn hán kéo dài.
III. Theo Kinh Pháp hoa, 7 nạn là: Nạn lửa, nạn nước, nạn quỷ La sát, nạn chiến tranh, nạn ma quỷ, nạn tù tội tra tấn, nạn cướp bóc.
IV. Theo Kinh Đà la ni tập, 7 nạn là: Nạn vua chúa ác độc, nạn giặc cướp, nạn nước, nạn lửa, nạn quỷ La sát, nạn bùa chú cậy thế lực ma ám hại, nạn thuốc độc.

sept fautes capitales        Thất nghịch        七逆    
sept fautes capitales (shichi-gyaku, 七逆). D'après le Maka Shikan Bugyoden Guketsu, tuer un moine et tuer un maître, plus les Cinq forfaits (tuer son père, tuer sa mère, tuer un arhat, blesser ou faire saigner un bouddha (on ne peut pas le tuer) et rompre l’harmonie de la communauté des religieux (sangha). D'après le Sutra du filet de Brahma : c'est insulter un bouddha, tuer son père, tuer sa mère, tuer une moine de haute vertu, tuer un acarya, provoquer la discorde dans le Sangha, tuer un sage.



  7 tội ngỗ nghịch. C̣n gọi là Thất nghịch tội, Thất giá.
1. Làm tổn thương thân thể của Phật, làm thân Phật chảy máu (ngày nay được hiểu là đập phá tượng Phật, in ấn tượng Phật lên bao b́ thương mại...)
2. Giết cha.
3. Giết mẹ.
4. Giết Hoà thượng.
5. Giết thầy Giáo thọ (thầy giảng sư hoằng pháp).
6. Phá hoại sự hoà hợp của Tăng đoàn.
7. Giết Thánh tăng.

signifie pensée conceptuelle        Tầm tứ    discursive thought and investigation    尋伺    vitarka-vicāra
Vitarka (sanskrit ; pali : vittaka), signifie pensée conceptuelle, prise-ferme.

Comme facteur de dhyāna en méditation bouddhique, il s'agit de l'application initiale de l'attention (prélude à un maintien continu de l'attention, vicara) : le mental est capable de repérer toute distraction et de revenir à l'objet de l'attention (tel que la respiration dans la technique anapanasati).

Dans la méditation bouddhique, vicara (pali) désigne l'attention soutenue, l'attitude du méditant pratiquant samatha bhavana et focalisant son attention sur l'objet de la pratique.

Ce maintien de l'attention ne désigne pas la concentration par elle-même. Elle signifie que le méditant fait l'effort de maintenir son attention. Une comparaison est que vitarka consiste à tenir un bol d'une main et que vicara consiste, de l'autre, à le nettoyer. Une autre est que vitarka est le coup sur le gong et vicara le son continu qui en résulte.

Vicara est un facteur menant à la concentration, présent dans le premier jhana. A la différence de vitarka, le mental reste concentré sans distraction sur l'objet de l'attention (tel que la respiration dans la technique anapanasati).

  Tầm tứ là từ dịch nghĩa của từ tiếng Phạm vitarka-vicāra, xưa dịch là ‘giác quán’, là tên gọi chung của hai tâm sở Tầm và Tứ. Tầm là tác dụng của tư duy, truy t́m để hiểu được danh nghĩa (tên gọi và ư nghĩa của tên gọi đó) của các pháp ở dạng thức đơn giản. Tứ (hay đọc là Từ) là tác dụng của tư duy ở dạng thức tinh tế hơn, đào sâu vào vấn đề để hiểu rơ hơn về danh nghĩa của các pháp, nó không có mặt trong tất cả các tâm, cũng không khởi lên trong mọi lúc, tính của nó rất chậm chạp, nhưng đi sâu vào bản thân của đối tượng để hiểu đối tượng, và nó cùng có mặt một lúc với ‘tầm’ để phát huy tác dụng của ngôn ngữ.
Luận Câu xá xếp Tầm và Tứ vào mục Bất định địa pháp, là hai tâm sở trong 75 pháp. Duy thức th́ xếp nó vào trong 4 pháp bất định, là hai trong 100 pháp.

six mauvaises voies        Lục đạo    six destinies    六道    
six mauvaises voies (roku akudo 六悪道 ou roku-do, 六道, shad-gati). Les six premiers des dix mondes considérés comme mauvais car ils ne permettent pas de se libérer des souffrances. Ce sont le monde de l'enfer, le monde des esprits affamés, le monde des animaux, le monde des asura, le monde des hommes, le monde du ciel.

  Cũng gọi Lục thú.
Sáu đường mà chúng sinh đi tới để thụ sinh tuỳ theo nghiệp đă tạo.
1. Địa ngục.
2. Ngạ quỷ.
3. Súc sinh.
4. A tu la.
5. Người.
6. Trời.
Trong 6 đường này, 3 đường trước gọi là 3 đường ác, 3 đường sau gọi là 3 đường lành.

Six portes sensorielles        Lục căn    Six sense-organs    六根    Ṣaḍ indriyāṇi
Les six portes sensorielles sont : l'œil, l'oreille, le nez, la langue, le corps et le mental.

  Căn là h́nh thể của sự sống.
Có sáu căn:
1. Mắt (nhăn),
2. Tai (nhĩ),
3. Mũi (tỹ),
4. Lưỡi (thiệt),
5. Thân,
6. Ư


Société du Lotus Blanc        Bạch liên xă    the white lotus society    白蓮社    
Byakuren-sha (Bailianshe 白蓮社). "Société du Lotus Blanc". Groupe religieux chinois fondé en 402 par Huiyuan (334-416) et qui pratiquait la méditation sur le bouddha Amida.


  Đạo tràng tu tập theo pháp môn niệm Phật. C̣n gọi là Bạch liên hoa xă, Liên xă: Đạo tràng hoa sen trắng.
Khởi nguyên từ thời Đông Tấn, do ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn chủ trương, tập hợp những người cùng chung chí hướng tu tập lại một chỗ để niệm Phật, về sau h́nh thức tu tập này thịnh hành và lấy danh xưng là Bạch liên xă.
Đời Đông Tấn, niên hiệu Thái nguyên thứ 9 (384 dl), ngài Huệ Viễn đến Lô Sơn, trú ở Hổ Khê, chùa Đông Lâm, mọi người kính mộ đức độ của ngài vân tập về chùa cùng tu học rất đông. Niên hiệu Nguyên Hưng năm đầu (402 dl), số người đến tu gồm có cả tăng lẫn tục, như Huệ Vĩnh, Huệ Tŕ, Lưu Di Dân, Lôi Thứ Tông... cả thảy 123 người. Tất cả cùng kéo đến tinh xá đài Bát Nhă, quỳ trước tượng Phật A Di Đà lập thệ nguyện tinh chuyên tu tập niệm Phật tam muội cho đến ngày văng sinh Tây phương. Lúc ấy, do trước chùa có một cái ao trồng toàn hoa sen trắng, lại nguyện cùng nhau văng sinh về Cực lạc Liêng bang, cho nên mới lấy hiệu là Bạch liên xă. Về sau, tiếng đồn ngày càng vang khắp, tạo thành nhân duyên hưng thịnh pháp môn Tịnh độ. Từ đời nhà Đường, Tống trở về sau pháp môn này càng hưng thịnh hơn nữa, và lịch sử đă suy tôn ngài Huệ Viễn là sơ tổ của Liên xă, đồng thời cũng là sơ tổ của Tịnh độ tông tại Trung Hoa.

Soi ou moi-substance        Ngă    mine    我    ātman
Soi ou moi-substance. Faute de mieux on traduit atman par âme et l'inexistence d'une âme en soi (anatman) par non-existence d'un ego, non-existence d'un moi ou encore par non-substantialité du moi. Pour le bouddhisme, le sentiment du "je suis" (asmita) est non seulement illusoire mais le fait de considérer l'ensemble des agrégats comme un soi et de s'y attacher est la cause essentielle de la souffrance. Au moment de quitter la vie, l'animal, tout comme l'être humain attaché au sentiment du moi, éprouve un fort désir de la continuité de ce moi. C'est ce désir qui le conduit à la renaissance dans les six voies et au cycle sans fin des souffrances. La plupart des écoles mahayana nient l'existence en soi de tous les phénomènes alors que les écoles theravada nient seulement l'existence d'un soi individuel. Voir la non-substatialité (ku) et le non-soi.

  Cái tôi, cái ta, hay linh hồn, hoặc chỉ chung cho chủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn gốc của mọi vật và chi phối cá thể thống nhất.
Phật giáo chủ trương thuyết vô ngă, phủ nhận cái tôi, cái ta hay linh hồn.

Truy t́m tự ngă


Souffrance        Khổ    Suffering - Unsatisfactoriness    苦    Duḥkha
Souffrance, chagrin, affliction, douleur, anxiété, insatisfaction, inconfort, angoisse, tension, malheur et aversion. Le terme est probablement dérivé du mot duḥstha. Cette souffrance morale est au cœur de la première des quatre nobles vérités.

  Chân lư thứ nhất của Tứ diệu đế nói về tính chất của khổ như sau:
1. Sinh là khổ;
2. Già là khổ;
3. Bệnh là khổ;
4. Chết là khổ;
5. Thương mà phải xa là khổ (ái biệt ly khổ);
6. Ghét mà phải gặp là khổ (oán tắng hội khổ)
7. Không đạt ǵ ḿnh ưa thích là khổ (cầu bất đác khổ);
8. Mọi thứ dính líu đến Ngũ uẩn là khổ (ngũ uẩn xí thạnh khổ).

Sphère de l'infini de l'espace        Không vô biên xứ    Sphere of the infinity of space    空無邊處    Ăkăsanantăyatana
Premier (le plus bas) des quatre royaumes du monde du sans-forme (arupadhatu). Domaine où tout est non-substantiel (ku).


  Tầng trời thứ nhất trong 4 tầng trời của cơi Vô sắc. Chúng sinh ở cơi này v́ nhám chán h́nh sắc nên không có sắc uẩn, chỉ có 4 uẩn thọ, tưởng, hành, thức.

Stabilité        An định    Stability    安定    
L'esprit se trouve dans un état stable. Ceux qui ont quitté la contemplation dans le monde des désirs, commencent à voir apparaître les états de contemplation du monde de forme comme la conscience, la concentration, la joie et le bonheur.

  Đạt được Định thoát ly Dục giới, chứng được các Thiền chi Tầm, Từ, Hỷ, Lạc của Sơ thiền Sắc giới, Tâm ở trong cảnh giới ngưng chỉ, an ổn. Những người đă rời khỏi định ở cơi Dục, bắt đầu hiện các thiền chi của định cơi Sắc, như Tầm, Từ, Hỉ, Lạc, th́ đạt được trạng thái này.

Sûtra        Kinh        經    Sūtra, Sutta)
Représente la transmission des paroles du Bouddha.

Les soutras les plus importants sont:
- Le Sûtra du Cœur, qui est probablement le texte bouddhique le plus connu
- Le Sûtra du Diamant
- Le Sûtra du Lotus, écriture importante de certaines écoles chinoises (Tiantai) et japonaises (Tendai, Nichiren), considéré par ces écoles comme le dernier dicté par le Bouddha, summum de son enseignement
- Le Sûtra de l'Ornementation Fleurie (Avatamsaka Sûtra), écriture de référence des écoles Huayan (Chine) et Kegon (Japon), qui le considèrent comme le premier témoignage du Bouddha juste après le nirvana, donc le plus précieux ; il s’agit d’un ouvrage composite dont certaines sections sont à l’origine des textes indépendants, comme le Sûtra des Dix Terres (Dashabhumikasutra)
- Le Sûtra Mahaparinirvana, un des textes qui expose la présence universelle chez les êtres vivants de la nature de bouddha tathagatagarbha
- Les sûtras de la Terre Pure : Grand Sukhavati-vyuha Sūtra, (Sūtra de Vie-Infinie), Sūtra d'Amita et Sūtra Amitayurdyhana (Sūtra des contemplations)
- Le Sûtra Shurangama qui a influencé les courants Tiantai et Chan est un samadhi sutra, sûtra de méditation
- Le Suvarnaprabhasa Sūtra (Sutra de la Confession ou Sutra de la Lumière d’or) joua un rôle très important au Japon où sa récitation par le souverain était censée protéger le pays
- Le Sûtra Lankavatara, sûtra de référence de la première école chan
- L'Enseignement de Vimalakirti (Vimalakirtinirdesasutra), dans lequel s’expriment le Bouddha et Vimalakirti, un sage laïque, expose la supériorité du mahayana sur le hinayana.


  Là tên gọi của các bài giảng của đức Phật.
Kinh ghi lại những ǵ chính đức Phật giảng dạy. Khởi đầu bộ kinh ta hay nghe câu “Tôi nghe như vầy…” (Như thị ngă văn 如是我聞, sa. evaṃ śrute mayā). Câu này tương truyền xuất phát từ A-nan-đà, một đệ tử của Phật. A-nan-đà là người có trí nhớ phi thường, đă thuật lại những lời Phật nói trong buổi Kết tập lần thứ nhất ngay sau khi Phật diệt độ. Sau câu này, thường thường kinh kể lại buổi nói chuyện đó gồm có người tham dự, nơi chốn, thời gian. Sau đó là những lời khai thị của Phật, có khi là những cuộc đối thoại sinh động. Thường thường lối hành văn của kinh giản đơn, dễ hiểu, có tính giáo khoa. Kinh hay lấy những thí dụ và so sánh, ẩn dụ. Có khi kinh nhắc lại quá đầy đủ các yếu tố trong bài giảng làm người đọc thấy rất trùng điệp. Mỗi một kinh là một bài riêng biệt, xử lí một vấn đề riêng biệt.
Các kinh độc lập quan trọng của Đại thừa là: Diệu pháp liên hoa kinh (sa. saddharmapuṇḍarīka), Nhập Lăng-già kinh (sa. laṅkāvatāra), Phổ diệu kinh (hay Thần thông du hí, sa. lalitavistara), Chính định vương kinh (sa. samādhirāja), Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (sa. sukhāvatī-vyūha), Hiền kiếp kinh (sa. bhadrakalpika), Phạm vơng kinh (sa. brahmajāla), Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (sa. buddhāvataṃsaka), Thắng Man kinh (sa. śrīmālādevī), A-di-đà kinh (sa. amitābha), Quán vô lượng thọ kinh (sa. amitāyurdhyāna), Duy-ma-cật sở thuyết (sa. vimalakīrti-nirdeśa), Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh (sa. śūraṅgama).

Sûtra du Lotus        Kinh Diệu Pháp Liên Hoa        妙法蓮華經    Saddharma-puṇḍarīka sūtra
  Gồm 7 quyển, 28 phẩm, do ngài Kumārajīva dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại tạng kinh tập 9. Là một trong những bộ kinh chủ yếu của Phật giáo Đại thừa.

Diệu pháp hàm ư là giáo pháp nói trong bộ kinh mầu nhiệm không ǵ hơn; Liên hoa kinh ví dụ kinh điển thanh khiết hoàn mĩ.

Sûtra Surangama        Kinh Lăng Nghiêm        楞嚴經    Śūraṃgama-sūtra
  Gọi đủ là Đại Phật đỉnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh Thủ lăng nghiêm kinh.

Kinh có 10 quyển, do sa môn Paramiti, người trung Thiên Trúc dịch vào đời Đường, được thu vào Đại tạng kinh, tập 19.

Thủ lăng nghiêm là tên của một loại thiền định mà đức Phật đă chứng được, cũng là tiếng gọi chung cho cả muôn hạnh.

Nội dung kinh này trước hết kể chuyện ngài A Nan ra ngoài thành khất thực, bị nàng Ma đăng già cám dỗ, mê hoặc đến nỗi gần mất giới thể. Đức Phật biết A Nan đang bị dâm thuật làm khốn, liền sai ngài Văn Thù Sư Lợi đem thần chú đến hộ tŕ. Sau khi Ngài A Nan trở về tinh xá, nàng Ma đăng già cũng theo đến. Khi ấy Đức Phật nói pháp chỉ dạy Ma đăng già và khiến nàng xuất gia học đạo. Phần nổi bật nhất trong kinh này là 25 pháp môn viên thông ở quyển 5, trong đó, pháp môn thứ 24 Bồ tát Đại Thế Chí tŕnh bày về pháp môn niệm Phật viên thông, rất thường được tông Tịnh độ dẫn chứng.

Kinh Lăng Nghiêm nói về các yếu chỉ của pháp Thiền, như: Khai thị tu thiền, Nhĩ căn viên thông, Ngũ uẩn ma cảnh,...

Sympathie        Ai    Sympathy    哀    
  Có thiện cảm, thương xót, thương tiếc, xót xa. Than ôi! Nỗi đau buồn, sự buồn phiền, điều bất hạnh, ḷng trắc ẩn.

Terre pure        An dưỡng     Paradise    安養     
  Tên gọi về cơi Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà. Đồng nghĩa với Cực lạc.

Terre pure        Tịnh độ    Pure land     淨土    Sukhāvatī
Terre pure (jodo, 淨土). Terre qui n’est pas souillée par les passions (bonno) ou les cinq troubles (gojoku). Ce terme est utilisé en opposition à l'expression "terre impure" qui désigne le monde saha actuel, souillé par la souffrance et les désirs. Puisque la terre d'un bouddha est exempte des cinq impuretés, elle est appelée terre pure. Il existe deux points de vue concernant la relation entre le monde saha et la terre pure.
Le premier considère que la terre pure est un royaume totalement autre, physiquement séparé du monde saha comme, par exemple, la Terre d'émeraude du bouddha Yakushi à l'est et la Terre pure de la Béatitude parfaite du bouddha Amida à l'ouest (le terme Terre pure, écrit avec une majuscule, se réfère souvent à la terre d'Amida, Jodo). Le second point de vue, présenté dans le Sutra du Lotus ou dans le Sutra Vimalakirti, affirme qu'il ne peut y avoir de terre pure hors du monde saha. Cela dépend de l'état de vie d'une personne ; si elle purifie son cœur, le monde dans lequel elle vit devient une terre pure.

  Tịnh độ là thế giới trong sạch, không có những điều xấu xa, hoàn toàn thanh tịnh. Nhiếp đại thừa luận chép rằng: "Thế giới mà chúng sinh sống trong đó không có năm điều xấu xa (ngũ trược), th́ gọi là Tịnh độ". Đó là thế giới của chư Phật, là quốc độ của chư Phật, như Tịnh độ của Phật A di đà ở phương Tây, Tịnh độ của Phật Dược Sư ở phương Đông...


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13