Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Recherche par mot

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Recherche par lettre
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Recherche par genre:
BouddhasSûtrasNoms-LieuxTermes

Bilingue
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13 

Les vers du Dharma        Kinh Pháp Cú        法句經    Dhammapāda Sutra
C'est l'un des textes du Canon pāli, le Tipitaka ; plus précisément, le Dhammapada fait partie du Khuddaka Nikāya. Il s'agirait d'un des plus anciens textes bouddhiques qui soient conservés de nos jours.
Les vers du Dhammapada sont courts et percutants, il s'agit d'un recueil populaire.
Quoique la version pâlie soit la plus connue, une édition en gāndhārī, écrite en caractères kharosthi, a été découverte.

  Bản kinh thu chép những bài kệ do Đức Phật nói trong các kinh mà biên tập thành.
Hiện có bốn bản khác nhau:
1. Bản tiếng Pāli: có 26 phẩm, 423 bài tụng.
2. Bản Ưu đà na, tiếng Phạm, do Pháp Cứu sưu tập, sa-môn Duy-ḱ-na, người Thiên Trúc dịch sang tiếng Hán (bản dịch tiếng Việt do Tỳ theo Thích Nguyên Hùng và Thích Đồng Ngộ hợp dịch), gồm 2 quyển, 39 phẩm, 752 bài tụng).
3. Bản dịch Tây Tạng
4. Kinh Pháp tập yếu tụng, 4 quyển, do ngài Thiên Tức Tai dịch vào đời Tống.
Kinh Pháp cú là tác phẩm phản ánh sự thể nghiệm sâu sắc, đầy đủ về đời sống thực tiễn của con người, là cuốn sách nhập môn hay nhất của Phật giáo.

Libération        Giải thoát    Liberation    解脫    mokṣa, vimokṣa, mukti, vimukti, pi. vimutti
Parvenir à un état libre après avoir relâché tous les attachements. La libération de samsâra, le cycle de mort et renaissance ou réincarnation et toute la souffrance et la restriction d'existence de ce monde. Sa signification est semblable à celle de Nirvana dans le Bouddhisme.

  Nghĩa là đạt tự do sau khi buông xả tất cả những trói buộc trong cuộc sống.
Phàm tất cả cảm thọ ảnh hưởng sự khổ vui của thân tâm đều được giải tỏa, mà đạt đến chỗ sanh tử tự do, chẳng bị thời gian không gian hạn chế, mới là chân giải thoát.

Lieu calme        A lan nhă    Calm, silent place    阿蘭若    Àranya
  Là núi rừng, đồng hoang, những nơi yên tĩnh vắng vẻ, thích hợp với những người xuất gia tu hành. C̣n có nghĩa là nơi xa ĺa, nơi vắng lặng, nơi rất thong thả, nơi không tranh giành.

Lotus bleu        Ưu bát la    Blue lotus    優鉢羅    Utpala
  Hoa sen xanh.

Maha-brahma        Đại phạm thiên    great brahman heaven    大梵天    Mahā-brahma
Un autre nom de Maha-brahma est Brahma, Roi Brahma... Parfois, on l'appelle Maître Suprême du Monde de Saha, Roi céleste du monde...
Maha-brahma est le roi des êtres célestes du Royaume Céleste de Premier État de Concentration Méditative du Monde de la Forme. Ce Royaume est composé de trois niveaux: Parsadya, les êtres célestes du niveau le plus bas, Brahmapurohita, les êtres célestes ministres ou assistants de Brama et enfin Maha-brahma qui est le seigneur des trois niveaux.
Selon la philosophie brahmaniste en Inde, Maha-brahma est le créateur de ce monde, le Maître Suprême du Brahmanisme.
Mais pour le Bouddhisme, Maha-brahma n'est que l'un des êtres vivants du monde céleste ayant la foi et la vénération pour les Trois Joyaux et étant un protecteur fervent du Dharma et les pratiquants du Dharma. Selon le sûtra Mahasamghata, les Bouddhas dans le passé avaient déjà confié à Maha-brahma et Indra (Roi Céleste du Monde Du Désir) la mission protectrice des êtres des Quatre directions. En outre, le sûtra de Grande Compassion écrit : quand l'Honoré du Monde (Bouddha Shakyamuni) était sur le point d'entrer dans le Nirvana, avait éradiqué la vision erronée de Maha-Brahma lui permettant de devenir son disciple, et lui avait confié une importante responsabilité de protéger les trois mille grands mondes ainsi que le Bouddhisme. C'est ainsi que dans les textes bouddhistes, Maha-brahma et Indra sont deux anges qui protègent le Dharma et préservent le bienfait des populations dans les trois mille grands mondes.

  Tên gọi khác: Đại phạm thiên vương, Đại phạm thiên, Phạm thiên, Phạm vương... Có khi c̣n gọi là Ta-bà thế giới chủ (chúa tể của thế giới Ta-bà), Thi-khí, Thế chủ thiên (Thiên chúa của của đời).

Đại phạm thiên vương là vua của chư thiên cơi Sơ thiền Sắc giới. Sơ thiền có ba tầng trời là Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên và Đại phạm thiên. Đại phạm thiên làm chủ cả ba tầng trời này.

Trong triết học Bà-la-môn giáo tại Ấn độ, Đại phạm thiên là đấng tạo vật của thế giới này, là Thiên chúa tối cao của đạo Bà-la-môn.

Nhưng trong Phật giáo, Đại phạm thiên chỉ là một trong những chúng sanh ở cơi trời, có ḷng kính tin Tam bảo và là một hộ pháp đắc lực. Theo kinh Đại tập, trong quá khứ, chư Phật đă từng giao sứ mạng bảo hộ Bốn thiên hạ cho Đại phạm thiên và Đế-thích thiên. Ngoài ra, theo kinh Đại bi ghi chép, khi Đức Thế tôn sắp nhập Niết-bàn, Ngài đă phá trừ tà kiến cho Đại phạm thiên, để ông trở thành một đệ tử của Phật. Đức Thế tôn cũng giao trọng trách bảo hộ ba ngàn đại thiên thế giới và bảo vệ Phật pháp cho Đại phạm thiên. Do đó, trong kinh sách Phật giáo, Đại phạm thiên và Đế-thích thiên là hai vị thiên thần hộ tŕ Phật pháp và giữ ǵn sự lợi ích cho nhân dân trong ba ngàn đại thiên thế giới.

Maitreya        Phật Di Lặc    Maitreya    彌勒佛    Maitreya
Le Bienveillant qui serait le prochain Bouddha à venir lorsque le Dharma, l'enseignement du Bouddha Shakyamuni, aura disparu.


  Vị Phật tương lai của chúng ta có tên là Di-lặc. Kinh Tạp A-hàm, ghi: “Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi sẽ có Đức Phật hiệu là Di-lặc ra đời” (Tạp A-hàm, kinh số 66).
Di-lặc, tiếng Phạn là Maitreya, Trung Hoa dịch là Từ Thị (họ Từ). Tên Ngài là A-dật-đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng (không ǵ hơn). Có khi người ta cho A-dật-đa là họ, c̣n Di-lặc là tên của Ngài.
Ngài sanh tại niềm nam nước Thiên Trúc trong một gia đ́nh Bà-la-môn. Tương truyền, Ngài là vị Phật tương lai, tiếp sau đức Phật Thích Ca, hiện đang là vị Bồ-tát bổ xứ. Khi Quang Phật nhập diệt, Ngài sanh vào nội viện cung trời Đâu Suất. Ở đó đến 4 ngàn năm (tức là khoảng 56 ức 7000 vạn năm ở cơi người), th́ hạ sanh xuống nhân gian, dưới cây Long Hoa ở vườn Hoa Lâm, và thành Chánh giác. Trong quá khứ, Ngài đă từng tu tập thành công từ tâm tam-muội, do đó mà có tên là Từ Thị. Đến khi thành Phật cũng lấy tên này.
Chú Duy Ma Kinh, quyển 1, ghi: “Di-lặc là họ của một vị Bồ-tát, tên là A-dật-đa. Người nam Thiên Trúc, thuộc ḍng dơi Bà-la-môn”. Thiên Thai Tịnh Danh Sớ, ghi rằng: “Di-lặc nghĩa Từ Thị. Trong quá khứ, ngài từng làm vua tên là Đàm-ma-lưu-chi, dùng ḷng Từ Bi để cai trị thiên hạ, nên dân chúng tôn xưng ngài là Từ Thị. Từ đó trở đi, ngài luôn mang tên Từ Thị, họ là A-dật-đa, tức là không ǵ hơn”.
Câu Xá Quang Kư, quyển 18, ghi: “Maitreya dịch nghĩa là Từ Thị. Đó là vị Bồ-tát sinh ra từ ḷng từ bi, cho nên gọi tên như vậy”.

Maître Zen Van Hanh        Vạn hạnh thiền sư        萬行禪師    
Le maître Zen Van Hanh, se nommait Nguyen, et fut originaire de Co Phap (actuel Bacninh).Il venait d'une famille de fervents bouddhistes depuis des générations. Dès son enfance, il s'est distingué par son intelligence hors du commun. Il était versé dans l'étude do confucianisme, taoïsme et bouddhisme, étudiait toutes les écoles philosophiques, mais dédaignait les honneurs du monde…A l'âge de 21 ans, il fut ordonné moine par le Maître Luc Ong à la pagode Luc To. Après le décès de son maître, il se concentra dans la pratique du Mantra Dharani, et depuis, tout ce qu'il disait se réalisa.

Le Roi Lê Dai Hanh avait beaucoup d'égards pour lui, l'invitait souvent au palais pour discuter politique, ou pour demander conseil au sujet des attaques des Chinois dans le nord et des Chiem Thanh dans le Sud. Le Maître Van Hanh était aussi la personne qui avait élevé le roi Ly thai To (1010-1028) dans une pagode quand ce dernier n'était encore qu'un tout jeune moine au nom de Ly cong Uan.

Plus tard, devant la brutalité et la cruauté de Le Long Dinh, il convainquit la cour de le nommer roi et fonda ainsi la dynastie des Ly. Ce fut encore lui qui conseilla au nouveau roi de transferrer la capitale de Hoa Lu à Thang Long, et l'aida à gouverner avec sagesse et humanité pour le bonheur du peuple et la prospérité du pays.

Le poème suivant fut sa dernière exhortation à ses disciples avant qu'i ne s'éteigne sereinement :

身如電影有還無
萬物春榮秋又枯
任運盛衰無怖畏
盛衰如露草頭鋪

"La vie de l'homme est un éclair sitôt né, sitôt disparu,
Verdoyant au printemps, l'arbre de déssèche à l'automne,
Grandeur et décadence, il ne faut pas s'en effrayer
Epanouissement et déclin ne sont que gouttes de rosées,
Perlant sur un brin d'herbe* "

Le roi Ly Nhan Tong parlait de lui comme un bonze qui "brandit son bâton pour défendre le pays".

  Là tên một vị Thiền sư lớn của Việt Nam. Thiền sư họ Nguyễn, người châu Cổ Pháp, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức (nay là làng Đ́nh Bảng, Thuận Thành, Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đ́nh đời đời tín Phật. Thuở nhỏ, ngài đă có tư chất khác thường, tinh thông Tam học, nghiên cứu trăm luận, xem thường công danh. Năm 21 tuổi, xuất gia với Thiền Ông ở chùa Lục Tổ. Sau khi thầy qua đời, Thiền sư dốc chí luyện tập môn Tổng tŕ Tam-muội, từ đó lời nào ngài nói ra cũng đều rất ứng nghiệm.

Hoàng đế Lê Đại Hành (980-1005) rất mực kính mộ Thiền sư, vua nhiều lần thỉnh ngài vào triều để bàn bạc quốc sự, tham vấn kế sách đối phó với giặc Tống ở phương Bắc cũng như giặc Chiêm Thành ở phía Nam. Thiền sư Vạn Hạnh chính là người đă dày công giáo dưỡng Lư Thái Tổ (1010-1028) ở trong chùa từ nhỏ, lúc vua c̣n là chú tiểu Lư Công Uẩn, theo nghĩa phụ Lư Khánh Văn đến chùa Tiêu Sơn học đạo.
Khi thấy Lê Long Đĩnh (1005-1009) bạo ngược, trăm họ sống trong cảnh lầm than, bấy giờ Lư Công Uẩn đang giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ nhà Lê, Thiền sư đă vận động quần thần trong triều suy tôn Lư Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập ra nhà Lư. Và về sau, cũng chính Thiền sư đă tham mưu cho Lư Thái Tổ trong việc dời đô, từ kinh đô Hoa Lư về Thăng Long, để tính kế phồn thịnh muôn đời cho dân tộc.
Ngày rằm tháng Năm năm Thuận Thiên thứ 16 (1025), khi công hạnh đă viên măn, Thiền sư gọi đồ chúng lại dặn ḍ: “Các con muốn đi đâu? Thầy không nương vào chỗ trụ để trụ, cũng không lấy chỗ vô trụ để trụ”. Rồi Thiền sư nói bài kệ:

身如電影有還無
萬物春榮秋又枯
任運盛衰無怖畏
盛衰如露草頭鋪

"Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”.

Dịch:
"Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi thu héo hon
Tùy vận thịnh suy không hăi sợ
Thịnh suy đầu cỏ có phơi sương".

Nói xong bài kệ, Thiền sư an nhiên thị tịch. Vua và sĩ thứ làm lễ trà tỳ, lượm cốt dựng tháp để thờ. Lư Nhân Tông thường có bài kệ truy tặng rằng:

"Vạn Hạnh dung ba cơi
Thật hiệp lời sấm xưa
Quê hương tên Cổ pháp
Chống gậy trấn kinh đô".

Mantra d'Amitabha        A di đà chú    Amitabha mantra    阿彌陀咒    Amitābha mantra
Est une formule sacrée du Bouddha d'Amitabha qui protège l'esprit du pratiquant et permet d'atteindre la Terre Pure après la mort.

  Là chân ngôn của đức Phật A di đà. Cũng gọi là A di đà tâm chú (thần chú được nói ra từ tâm Từ Bi của Phật A di đà), Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú (thần chú bạt trừ tất cả mọi phiền năo căn bản để chúng sinh được văng sinh về Tịnh độ), Vô lượng thọ Như lai căn bản đà la ni (thần chú căn bản của đức Như lai Vô lượng thọ). Đà la ni căn bản biểu tỏ nội chứng, bản thệ, công đức của Vô lượng thọ Như lai, có đủ các công đức khiến cho người tŕ tụng hiện đời này được yên ổn, tội chướng tiêu diệt, sau khi chết được sinh về cơi Tịnh độ.

Mantra de la Grande Compassion        Chú Đại Bi - Đại Bi Tâm Đà La Ni    Great Compassion Mantra    大悲咒    Maha Karunika citta Dharani
  Theo kinh Mahakarunikacitta, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokiteśvara Bodhisatva) đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhăn vô ngại đại bi tâm đà ra ni. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Nam Mô A rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn tŕ. Hê rị ma ha bàn đà sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa (na ma bà tát đa). Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê. Lô ca đế. Ca la đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô kiết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da.Giá ra gía ra. Mạ. Mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê lị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ Bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn tŕ. Địa rị sắc ni na. Bà dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà dủ nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn tŕ. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn tŕ bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ. Ta bà ha. Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.
Án. Tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà dạ. Ta bà ha. (3 lần)

Méditer sur un bouddha         Niệm phật    Be mindful of the meritorious virtues of the Buddha    念佛    Buddhānusmṛti
A l'origine, terme désignant l'action de méditer sur un bouddha ou d'invoquer son nom. Dans l'usage populaire, il fait presque toujours référence au bouddha Amida. Les tenants de la doctrine de la Terre pure se servirent dans un premier temps de ce terme pour définir la méditation sur Amida, mais, par la suite, l'usage en vint à désigner ainsi la récitation du nom d'Amida (Namu Amida Butsu). A partir de l'époque de Shandao, c'est ce dernier usage qui prévalut. Au Japon, Honen affirma que la pratique de la récitation du nom du bouddha Amida était le seul moyen permettant de renaître dans la Terre pure. On distingue plusieurs variétés de nembutsu : simple invocation (shomyo-nembutsu), méditation (okunen-nembutsu), contemplation pure (kannen-nembutsu), danse accompagnant l'invocation (nembutsu-odari).


  Niệm Phật, tiếng Phạn buddhānusmṛti (Pàli: buddhānussati), là một trong những pháp môn tu hành rất căn bản được Đức Thế Tôn chỉ dạy rất rơ ràng, hiện c̣n lưu lại trong các bản kinh rất cổ xưa, cả tạng Pàli và tạng Hán, gồm có ba cách: một là nhớ nghĩ pháp thân Phật, hai là quán tưởng tướng hảo và công đức của Phật, ba là xưng niệm danh hiệu của Phật. Trong đó, theo lư mà niệm Phật th́ gọi là pháp thân niệm Phật (c̣n gọi là thật tướng niệm Phật); trong tâm luôn nhớ nghĩ đến h́nh tướng và công đức của Phật gọi là quán tưởng niệm Phật; miệng luôn xưng danh hiệu Phật gọi là tŕ danh niệm Phật, xưng danh niệm Phật.
Trong văn bản gốc kinh A-di-đà bằng tiếng Phạn, th́ chữ “niệm Phật” có nguyên ngữ ban đầu là buddhamanasikāra, sau được viết thành buddhānusmṛti. Chữ manasikāra có nghĩa là tác ư. Chữ smṛti có nghĩa là ức niệm. Theo đó, người ta đă dịch buddhamanasikāra (hoặc buddhānusmṛti) thành “niệm Phật”, hoặc “tŕ danh niệm Phật”.

Mérite        Công đức    meritorious virtue    功德    Guṇa
bienfaits de la pratique (biens spirituels, mérites, kudoku ou fukutoku, 功徳, 福徳, guna ou punya). Littéralement, "oeuvres et vertus". Les oeuvres (ku) sont les bonnes actions que l'on accomplit et les vertus (toku), ce que l'on retire des oeuvres. Les vertus, en retour, permettent de mieux réaliser les oeuvres. Le bouddhisme de Nichiren marque une distinction entre bienfaits apparents et inapparents.

  Công có nghĩa là công năng, có cái công giúp cho điều phúc lợi; công ấy khiến làm được những việc tốt lành có đức, gọi là công đức.

Diệt sạch hết mọi điều ác gọi là công, làm hết mọi điều lành là đức. Thành tựu cả công lẫn đức th́ đạt được giải thoát, gọi là công đức viên măn.

Moine bouddhiste        Tỉ khâu, T́ kheo    Buddhist monk    比丘    Bhikkhu, Bhikṣu
A l’origine, le terme a été traduit par moine-mendiant. Cette traduction est impropre dans la mesure où un bhiksu ne s'adonne pas à la mendicité mais fait simplement appel aux autres pour subvenir à ses besoins vitaux, ce qui lui permet de "rechercher la Voie". Par ailleurs, dans la civilisation indienne antique, il n’y a rien de méprisant dans cette occupation. Le bhiksu permet d’accomplir le don qui est la première des six paramita (actes moraux). Le Bouddha lui-même était un bhiksu, il n’avait nulle possession et dépendait pour sa subsistance quotidienne des dons de laïcs. Le terme désigne actuellement le clergé bouddhique qui quête sa nourriture.

  Người nam xuất gia theo Phật giáo đă thọ giới cụ túc (250 giới), đầy đủ 5 ư nghĩa: 1. Khất sĩ (đi xin ăn để đơn giản đời sống cho thanh tịnh và để gần gũi với tín đồ mà giáo hoá, tạo cho tín đồ cơ hội gieo trồng phước điền); 2. Phá giặc phiền năo (tham, sân, si, mạn, nghi...); 3. Ra khỏi nhà thế tục và nhà tam giới (ra khỏi 3 cơi); 4. Giữ giới thanh tịnh; 5. Làm cho chúng ma sợ hăi.

Moyen pratique        Phương tiện         方便    Upāya
  Phương tiện cũng thường nói là «phương tiện quyền xảo»: sự khéo léo của khả năng thuyết giáo, hướng dẫn thích hợp tùy theo căn tánh mỗi chúng sanh để đưa đến địa vị của Phật thừa.
Bồ-tát đạo được thực hành trên một nền tảng song đối, đó là đại trí và đại bi hay đại hạnh. Với đại trí, Bồ tát học tập quán sát để nh́n thấu suốt bản tính chân thực của vạn hữu, nghĩa là học hỏi vô biên Phật pháp, không bao giờ biết mệt mỏi nhàm chán. Nhưng Bồ tát đạo không phải là con đường mong cầu lợi ích riêng cho ḿnh, mà hướng đến sự giải thoát và giác ngộ của hết thảy chúng sinh. Do đó, song song với sự học tập và quán sát để thành tựu đại trí, Bồ tát cũng phát khởi tâm nguyện đại bi. Tâm nguyện ấy, nếu không do phương tiện trí th́ không thể thành tựu được. Bởi v́ sự thành tựu đại trí, tức thành tựu nhất thiết trí, thấy rơ chân tướng của vạn hữu, Bồ tát thấy rằng thế giới này xuất hiện như h́nh ảnh của chiêm bao, như bóng dáng trong nắng quái, như bọt nước, như làn chớp, v.v... và sự thành tựu ấy có thể dẫn đến tư tưởng nhàm chán thế gian, thúc đẩy ước vọng từ bỏ thế gian để một ḿnh thủ chứng Niết-bàn. Cho nên, sau khi đă chứng đạt đến trí tuệ thực chứng tánh không của thế giới, Bồ tát tu tập để phát hiện phương tiện trí. Với phương tiện trí, nghĩa là khả năng sử dụng phương tiện khéo léo, Bồ tát thấy mặc dù thế gian vốn trống rỗng, không thực chất, nhưng do nhân duyên, các pháp cùng tương quan mà hiện khởi. Do hiểu biết sâu xa nguyên lư duyên khởi như vậy, Bồ tát không hề nhàm chán thế gian, để chứng nhập Niết-bàn không sinh không diệt.

Nature cachée de bouddha        Ẩn một Như lai tạng    Hidden essence of boudha    隱沒如來藏    
Tout être vivant possède une essence de bouddha mais elle est cachée par les facteurs de perturbations.

  Một trong 10 loại Như lai tạng. C̣n gọi là Ẩn phú Như lai tạng. Tức pháp thân Như lai bị phiền năo che lấp khiến ẩn mất.

Nature de bouddha        Như Lai tạng        如來藏    Tathāgata garbha
Embryon, matrice, essence, cœur ou nature de bouddha.
Dans tous les êtres est cachée l'essence de bouddha. Tout être vivant a la capacité d'atteindre l'éveil parce que l'essence de bouddha existe dans chacun par nature.

  Đồng nghĩa với pháp tánh, pháp thân, chơn như, Phật tánh, Niết bàn…Tạng là cái bọc chứa, theo nghĩa ban sơ là cái bọc thai, tạng là giấu kín che phủ phiền năo mê lầm, giấu kín che phủ Phật tính là cái mầm giác ngộ vốn có trong mọi chúng sanh. Tạng là chất chứa, Như lai tạng là chất chứa mọi công đức quyền năng của Như lai, là tất cả pháp do Phật giảng dạy tập hợp lại thành Như Lai tạng.

nature de dharma         Pháp tính    original essence of all being    法性    dharmatā
nature de dharma (hossho, 法性, dharmata). Nature primordiale (atemporelle) de l'ensemble des dharma. La vérité éternelle et immuable, inhérente à chaque chose. La nature éveillée que toute vie possède de façon innée. Le contraire de l'obscurité (mumyo) ou des illusions. On distingue par ailleurs la nature de bouddha inhérante ou primordiale (shoin bussho), la sagesse pour concrétiser cette nature de bouddha (ryoin bussho) et les conditions ou les pratiques pour la manifester (en-in bussho).



  Cũng gọi Chân như pháp tính, Chân pháp tính, Chân tính, Pháp bản.
Chỉ cho thể tính chân thực của các pháp, cũng tức là bản tính bất biến của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Cũng là tên khác của Chân như.
Thể tính chân thực của các pháp là tính không, cho nên Pháp tính c̣n gọi là Không tính.

neutre        Vô kí        無記    Avyākrita
Ce qui ne peut être qualifié ni de bon ni de mauvais, ni d'agréable ni de désagréable.

  Một trong 3 tính. Sự vật có tính thể trung dung, không ghi lại dấu ấn thiện, cũng không ghi lại dấu ấn ác, đồng thời chiêu cảm quả báo thiện hay ác không thể xác định được gọi là Vô kư.
Luận Câu-xá, ghi: 'Vô kư có nghĩa là, không thể xác định được tính chất thiện hay bất thiện. Thuyết khác nói, đối với quả dị thục (vipāka), chúng không xác định, nên gọi là Vô kư'.
Đại thừa nghĩa chương, ghi: 'Có hai cách hiểu về Vô kư. Thứ nhất là, đối với sự phân biệt quả báo, nghiệp này có tính chất trung dung, không thể xác định được quả báo là lạc hay khổ, cho nên gọi là Vô kư. Thứ hai là, đối với nghiệp trung dung, không thể xác định được là thiện hay ác, nên gọi là Vô kư'.

Nirvāṇa        Niết bàn    Nirvāṇa    涅槃    Nirvāṇa
Nirvana, nibbana (nehan, 涅槃). Etymologiquement nirvana signifie l'extinction du souffle et par conséquent la disparition, la mort. Cela en est encore le sens dans les expressions comme "entrer dans le nirvana". Ce nirvana possède des qualités distinctes du samsara (vies/morts). Il est doté des quatre vertus (shitoku)
- la permanence (jo) : étant situé en dehors de l'espace/temps, il ne connaît pas de fin ; - le bonheur (raku) : l'être est libéré des attachements et de la souffrance ; - soi (ga) : la notion purement individuelle de la personnalité disparaît au profit d'une perception d'un "soi" suprapersonnel ; - pureté (jo) : la notion bien/mal disparaît au profit de la notion d'ainsité.
Toutefois après son Eveil, le Bouddha a renoncé au nirvana pour pouvoir enseigner la boddhéité aux autres. On en est donc venu à appeler nirvana un état de sérénité imperturbable qui dure jusqu'à la mort de l'Eveillé et parler de la mort du Bouddha comme du parinirvana, nirvana définitif ou encore d'extinction (滅)
Selon le Shusho no Iki (Recueil des merveilles dans le livre de Zhou) Shakyamuni mourut le 15 février de la cinquante-deuxième année du règne du roi Mu (-949).
Dans le bouddhisme de Nichiren, nirvana signifie extinction du feu des défilements-troubles (klesha, bonno) : défilement de la pensée qui saute sans cesse d'une idée à une autre, d'une image à une autre et défilement des désirs égocentriques qui changent sans arrêt et troublent la perception correcte de la réalité.

  Niết-bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt. Phật giáo dùng từ này để biểu thị trạng thái lửa phiền năo thiêu đốt đă bị dập tắt hoàn toàn, là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ, cảnh giới hoàn toàn không có khổ đau. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử (mê giới), cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo, cho nên được xếp vào một trong những pháp ấn, gọi là Niết-bàn tịch tĩnh.

Tuỳ theo trạng thái Niết-bàn đạt được mà người ta chia ra nhiều loại Niết-bàn khác nhau. Niết-bàn không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, tư duy phân biệt, nhưng nó là một trạng thái có thật, và ai cũng có thể đạt được, nhờ vào sự diệt trừ một cách hoàn toàn những phiền năo. Nếu đă trừ diệt hoàn toàn những nguyên nhân của khổ, tức diệt hết phiền năo ngay trong đời này, ngay nơi thân thể và cuộc sống này, th́ gọi là Hữu dư y Niết-bàn. Nếu đă diệt trừ hoàn toàn nguyên nhân của khổ và không c̣n dư báo của khổ, tức phiền năo đă diệt hết và báo thân này cũng hết, gọi là Vô dư y Niết-bàn.
Niết-bàn là thực tại, là thấy được Thực tướng của các pháp. Thực tướng của các pháp là tính không, là pháp do nhân duyên sinh ra, bởi thế Niết bàn và sinh tử thế gian không có sai khác.

Nirvāṇa sans reliquat        Vô dư niết bàn    Nirvāṇa without remainder    無餘涅槃    Nirupadhiśeṣa-nirvāṇa
nirvana sans reliquat (muyo nehan, 無餘涅槃). But du Theravada. A l'origine, le nirvana était considéré comme l'état dans lequel toutes les illusions, tous les désirs et le cycle de naissance et de mort disparaissent. Dans cette optique, le Theravada distingue deux sortes de nirvana. Le premier est celui d'un arhat qui a éliminé toutes les illusions et ne renaîtra plus dans les six voies, mais qui est encore rattaché au monde des souffrances dans ce sens qu'il possède un corps. C'est ce que l'on appelle le nirvana du reliquat (uyo nehan) ou nirvana incomplet. Le second est celui qu'il atteint à sa mort, lorsque à la fois le corps et l'esprit, sources de souffrances, s'éteignent. C'est ce que l'on appelle le nirvana du non-reliquat (muyo nehan) ou nirvana complet. Comme le Theravada enseigne que le but ultime de la pratique ne peut être atteint qu'à la mort, les mahayanistes l'ont appelé par dérision la doctrine de "l'annihilation de la conscience et de la réduction du corps en cendres" (keshin metchi).

  C̣n gọi là Vô dư y niết-bàn.
Chỉ cho sự đoạn trừ hoàn toàn phiền năo chướng, diệt hết hoàn toàn quả khổ dị thục h́nh thành thân năm uẩn, hiển hiện niết-bàn hoàn toàn không có chỗ sở y.
Đại trí độ luận, quyển 31, nói: ‘Cảnh giới Vô dư niết-bàn là sự xả bỏ hoàn toàn năm uẩn, năm uẩn không c̣n hoà hợp, vĩnh viễn không c̣n thọ sanh trở lại’.
Đại t́-bà-sa luận, quyển 32, nói: ‘Sự tương tục của sắc thân, tâm, tâm sở pháp hoặc của thân, căn, giác đă đoạn trừ hoàn toàn, mọi phiền năo đă đoạn trừ vĩnh viễn, gọi là Vô dư y niết-bàn giới’.
Vô dư y là chỉ cho sự không c̣n y vào hai thứ: 1, Không c̣n y vào phiền năo (đă sạch hết phiền năo); 2, Không c̣n y sinh thân (không c̣n thân tái sinh).
Trung luận, quyển 3, nói: ‘Diệt hết nghiệp và phiền năo, đạt được tâm giải thoát, không c̣n tàn dư thân thể, tức là đạt Vô dư niết-bàn’.
Du-già sư địa luận, quyển 86, cho biết duyên do v́ sao mà gọi là Vô dư y niết-bàn. Luận nói: ‘Lại nữa, do diệt trừ hoàn toàn ba tướng trạng của các hành nên gọi là Vô dư y niết-bàn. Một là, v́ đă diệt trừ hoàn toàn các hành sinh khởi từ trước; hai là, đă diệt trừ hoàn toàn tự tính hoại diệt của các hành; ba là, đă diệt trừ vĩnh viễn tất cả phiền năo’.
Thành duy thức luận, quyển 13, nói ‘Niết-bàn vô dư y, tức chân như đă xuất ly khổ sinh tử, phiền nào đă hoàn bị diệt tận không c̣n, dư y cũng diệt, mọi thứ khổ bị dập tắt, nên được gọi là Niết-bàn’.



Noble Sentier Octuple        Bát chánh đạo    Noble Eightfold Path    八正道    Aṣṭāṅgika-mārga
La voie à huit membres qui mène à la cessation de la souffrance ainsi que de l'attachement (dukkha), est la dernière vérité des "Quatre nobles vérités"

Les huit membres sont :
1. Compréhension juste ou vision juste
2. Pensée juste ou émotion juste
3. Parole juste (ne pas mentir, ne pas semer la discorde par ses paroles, ne pas parler abusivement, ne pas bavarder oisivement) ;
4. Action juste (respectant les 5 préceptes) ;
5. Moyens d'existence justes ;
6. Effort juste (de surmonter ce qui est défavorable et d'entreprendre ce qui est favorable) ;
7. Attention juste, pleine conscience ou prise de conscience juste
8. Concentration juste, établissement de l'être dans l'éveil (vipassana).


  Con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ (sa. duḥkha), là chân lư cuối cùng của Tứ diệu đế.

Bát Chánh Đạo bao gồm:
1. Chánh kiến : Ǵn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lư vô ngă.
2. Chánh tư duy : Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ư nghĩa của bốn chân lư một cách không sai lầm.
3. Chánh ngữ : Không nói dối hay không nói phù phiếm.
4. Chánh nghiệp Tránh phạm giới luật.
5. Chánh mệnh : Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật) như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện.
6. Chánh tinh tiến : Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7. Chánh niệm : Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ư;
8. Chánh định : Tập trung tâm ư đạt bốn định xuất thế gian.



Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13