Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Recherche par mot

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Recherche par lettre
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Recherche par genre:
BouddhasSûtrasNoms-LieuxTermes

Bilingue
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13 

arrogance        Ngă mạn    identity    我慢    Asmimāna
Sentiment d'être supérieur aux autres, ce qui obscurcit le jugement et freine l'Eveil. Le bouddhisme distingue sept, huit ou neuf types d'arrogance. Un certain nombre de figures représentant l'arrogance apparaissent dans les sutras, tels les cinq mille personnes arrogantes dans le Sutra du Lotus et le brahman Grand-Arrogance. Des expressions telles que "la bannière de l'arrogance" y sont également fréquentes.

  Tâm kiêu mạn do chấp ngă là trung tâm, 1 trong 7 thứ mạn, 1 trong 9 thứ mạn.
Luận Thành duy thức quyển 4 định nghĩa: "Ngă mạn là tâm cao ngạo do chấp ngă mà sinh".

arrogance        Mạn    identity    慢    Asmimāna
  Mạn, đọc từ tiếng Phạm māna, là một loại tâm sở (tác dụng của tâm gọi là tâm sở). Nó ám chỉ cái tâm tự măn, cao ngạo, khi nào cũng thấy ḿnh tài giỏi hơn người khác và tỏ ư coi thường người khác. Nó cùng một loại với ‘kiêu’, nhưng không thực sự tương đồng. ‘Kiêu’ là tự cho ḿnh xinh đẹp, có huyết thống cao quư, có học thức… hơn người khác và tỏ ư tự hào. Cùng một cách như vậy, nhưng ‘mạn’ là cái tâm vọng tưởng về chính bản thân ḿnh, tức ḿnh không đẹp, không giỏi, không cao quư… mà tự cho ḿnh như thế, nghĩ ḿnh ưu tú hơn người, khi nào cũng muốn khoe khoang, ngạo mạn.
Duy thức tông xếp ‘mạn’ vào một trong 6 tâm sở căn bản phiền năo. C̣n Câu xá tông xếp nó vào một trong các pháp bất định địa.
Người ta đă chia ‘mạn’ ra thành những tâm lư nhỏ hơn, vi tế hơn, thành 7 mạn, 8 mạn, 9 mạn.
Luận Đại thừa ngũ uẩn chia ‘mạn’ ra thành 7 loại: 1. mạn; 2. quá mạn; 3. mạn quá mạn; 4. ngă mạn; 5. tăng thượng mạn; 6. ti mạn; 7. tà mạn.
Luận Đại t́ bà sa quyển 43 và 50, luận Câu xá quyển 19, giải thích nội dung 7 mạn như sau:
1. Mạn: Đối với người kém hơn ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người bằng ḿnh th́ nghĩ ḿnh bằng họ. Cái tâm lư này xem ra rất tự nhiên, không thể nói là xấu, thế nhưng, khi tâm lư này biểu hiện, nó thường có ư cao ngạo, v́ vậy mà không tốt.
2. Quá mạn: Đối với người bằng ḿnh, nghĩ ḿnh hơn họ; đối với người hơn ḿnh, nghĩ ḿnh bằng họ.
3. Mạn quá mạn: Đối với người hơn ḿnh, nghĩ họ thua ḿnh.
4. Ngă mạn: Cho năm uẩn là ta, của ta.
5. Tăng thượng mạn: Chưa chứng quả mà tự cho ḿnh đă chứng quả, chưa đoạn trừ hết phiền năo mà nói ḿnh đă hết phiền năo.
7. Tà mạn: Không có đức độ, lại buông lung làm việc ác, mà tự cho ḿnh có đức độ.
Những người nào có tâm mạn nói trên, nếu không theo học với bậc thiện tri thức, không hành đạo xuất ly, th́ không bao giờ thoát khỏi sinh tử luân hồi.


Ascétisme        Khổ hạnh    Ascetic    苦行    Duṣkara-caryā
L'ascèse est une discipline volontaire du corps et de l'esprit cherchant à tendre vers une perfection.
Bouddha pratiqua les austérités, l'ascétisme. Mais frôlant la mort, en réchappant de justesse, il abandonna également ces pratiques (ses compagnons d'alors comprirent ce revirement comme abandon, défaite, et le laissèrent seul).
Ce n'est qu'après que Gautama Bouddha aurait atteint l'illumination, le nirvāna. Le premier sermon du Bouddha annonce cette voie du milieu entre matérialisme et auto-destruction.

  Khổ hạnh là một h́nh thức tu bắt cơ thể phải chịu đói khát đau đớn. H́nh thức tu này có trước khi Phật giáo ra đời, chính thái tử Tất Đạt Đa trên con đường sáng lập đạo Phật đă từng tu khổ hạnh trong 6 năm trời, nhưng sau đó Ngài đă phát hiện cách tu này không đem lại sự giải thoát hoàn toàn nên đă từ bỏ và tiếp tục t́m chân lư Phật giáo.

Aspect de la pure ainsité         Đệ nhất nghĩa đế    Absolute truth    第一義諦    paramārtha-satya
aspect de la pure ainsité (jissoshin nyo, 實相眞如). Concept élaboré par Zhiyi pour qui la réalité apparaît sous une triple évidence harmonieuse (enzoku santai) : évidence de la vacuité, kutai, évidence de la temporalité ketai, et évidence du milieu chutai. Plusieurs concepts caractéristiques de la pensée indienne sous-tendent cette vision de l'univers. L'observation de l'univers met en évidence l'impermanence de tous les phénomènes. La vie, telle que nous la percevons est indissolublement liée au temps et au changement incessant. Il en découle la notion de la non-existence d'une nature propre (entité immuable). Et à l'inverse est mise en évidence la production conditionnée, enchaînement de causes créant des effets qui sont eux-mêmes des causes de nouveaux effets. Par ailleurs, alors que l'Occident cherche l'absolu dans une transcendance, un Dieu créateur, l'Orient, refuse toute idée d'un commencement absolu, d'une création du monde. S'il y a un Dieu, qui l'a créé ? S'il s'est créé tout seul cela signifie que l'univers aussi peut se créer tout seul. C'est le principe de l'immanence. Les querelles de la scolastiques occidentale qui cherchent à définir transcendance et immanence et à les opposer sont étrangères au Mahayana : les choses existent "par elles-mêmes". Mais en même temps elles n'existent pas "en elles-mêmes" mais seulement dans une relation interdépendante. Dire d'un fait qu'il est "tathata", "ainsi" c'est affirmer qu'il n'a pas été créé par un être transcendant. Le Dharma est "ainsi", le véritable aspect des phénomènes est "ainsi", le principe de causalité est "ainsi". Le Bouddha est l'Ainsi-Venu, nul ne l'a envoyé. La pure ou parfaite ainsité (nyonyo, 如如, tathata) est le monde tel qu'il est vécu par les bouddhas qui, tout en étant dans le monde, le perçoivent comme a-temporel et en dehors des catégories duelles : bien/mal, vie/mort, etc.

  Gọi tắt: Đệ nhất nghĩa. Cũng gọi Thắng nghĩa đế, Chân đế, Thánh đế, Niết bàn, Chân như, Thực tướng, Trung đạo, Pháp giới.
Chân lư nhiệm mầu, chân lư tối cao, chân lư hoàn toàn, chân lư duy nhất không c̣n ư nghĩa nào cao hơn nữa.
Cũng chỉ cho cảnh giới giác ngộ đă đạt được trí tuệ cứu cánh viên măn.
Kinh Đại phương đẳng đại tập ghi: Nếu c̣n dùng ngôn ngữ th́ c̣n vướng mắc, nếu c̣n vướng mắc th́ c̣n ở trong cảnh giới của ma. Nếu pháp nào không cần dùng tất cả mọi ngôn ngữ để biểu thị, diễn bày th́ pháp đó mới không c̣n bị vướng mắc. Pháp nào không thể dùng ngôn ngữ để nói? Đó là pháp Đệ nhất nghĩa. Trong Đệ nhất nghĩa không có văn tự chữ nghĩa, nếu Bồ tát có thể thực hành Đệ nhất nghĩa đế, th́ đối với tất cả các pháp không có pháp nào là không thực hành đến viên măn, đó là Bồ tát đă vượt qua được cảnh giới của ma".
Kinh Đại bát niết bàn nói: Chân lư ở thế gian gọi là Thế đế. Dùng phương tiện khéo léo để tuỳ thuận chúng sinh cho nên mới nói hai loại chân lư. Nếu nói chân lư vượt lên trên hoặc vượt ra khỏi chân lư thế gian th́ gọi là Đệ nhất nghĩa đế".

aspiration à l'Eveil        Bồ đề tâm    aspiration for enlightenment    菩提心    bodhi-citta
Etat d'esprit qui pousse à rechercher la boddhéité ou la sagesse de bouddha. Dans le Mahayana c'est le premier pas dans la pratique bouddhique.

  Bồ-đề tâm, nói đủ là vô thượng bồ-đề tâm, hay a-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề tâm (Skt. anuttara-samyak-saṃbodhi-citta), tức tâm nguyện thành tựu sự giác ngộ tối thượng. Đại trí độ (Đại 25, tr. 362c28): «Bồ-tát sơ phát tâm, lấy vô thượng Bồ-đề làm đối tượng, nói rằng: Mong tôi sẽ thành Phật. Đó gọi là bồ-đề tâm.» Bồ tát Di-lặc nói với Thiện Tài: «Bồ-đề tâm là hạt giống của hết thảy Phật pháp. Bồ-đề tâm là ruộng phước v́ nuôi lớn pháp bạch tịnh. Bồ-đề tâm là cơi đất lớn, v́ nâng đỡ hết thảy thế gian. Bồ đề tâm là tịnh thủy, v́ rửa sạch tất cả cáu bợn phiền năo…»
Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy ḿnh đang sống trong cảnh tối tăm, giữa đọa đày khổ nhục, mong t́m một con đường sáng không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà c̣n là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ. Bồ-đề tâm, đó là ư chí kiên cường bất khuất của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. «Vui cười ǵ, thích thú ǵ, giữa ngọn lửa không ngừng thiêu đốt ? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi t́m ngọn đuốc? (Kinh Trường A-hàm»

Attachement, Désir        Ái dục    Attachment, Desire    愛欲    Tṛṣṇā, toṣayati, priya
Le désir ardent ou le désir excessif ou inconvenant

  Đồng nghĩa với ái trước, ái nhiễm, ái chấp. Sự tham ái, đắm say dục lạc.

autre rive        Bỉ ngạn    other shore    彼岸    pāra
autre rive (higan, 彼岸). Métaphore qui désigne l'Eveil ou le nirvana et est employée par opposition à "cette rive", le monde des souffrances et des illusions. Le terme sanskrit "paramita" n'ayant pas d'équivalent en chinois, fut traduit par "atteinte de l'autre rive" et l'image fut ensuite conservée et développée.

  1. Bỉ ngạn, tiếng Phạm pāra: Bờ bên kia, ngược lại với bờ bên này. Thế giới này là thế giới mê muội, gọi là bờ mê. Thế giới bên kia là thế giới giác ngộ, gọi là bến giác, cho nên bỉ ngạn là chỉ cho bến giác. Bờ bên này là cảnh giới sinh tử, mà ḍng chảy chính là những phiền năo, nghiệp chướng; bến bên kia là cảnh giới niết bàn, hoàn toàn vắng lặng.
2. Bỉ ngạn, tiếng Phạm pāramitā: Dịch âm là ba la mật đa, dịch nghĩa đầy đủ là đáo bỉ ngạn, tức là đến được bến bờ giải thoát, đạt được giác ngộ.

Bienfaiteur des nécessiteux        Cấp cô độc    Anathapindika    給孤獨    Anàthapindika
Vivait dans la cité Shravasti, que l'on disait l'un des hommes les plus riches du royaume de Kosala. Réputé pour sa compassion et sa piété et appelé pour cela Anathapindika (celui qui donne aux nécessiteux). Il se convertit au bouddhisme en entendant Shakyamuni prêcher au monastère du Bois de Bambous à Rajagriha. Il décida d'inviter Shakyamuni à Shravasti et, avec l'aide du prince Jetri, fit construire, pour le lui offrir, le monastère Jetavanaqui devint un centre important où le Bouddha dispensa son enseignement.

  Cấp cô độc sống tại thành Xá Vệ. Là một quan Trưởng giả đại thần dưới quyền cai trị của vua Ba Tư Nặc. Ông cũng là người mua lại vườn thượng uyển của Thái Tử Kỳ Đà dâng cúng cho Phật làm tinh xá tên gọi Kỳ viên.

boddhéité        Bồ đề    perfect wisdom    菩提    Bodhi
boddhéité ou état de bouddha ou état d'éveillé (bodai 菩提, bukkai 仏界, bodhi). Etat propre au 10e des 10 mondes. Il ne s'agit pas de sainteté au sens occidental. C'est encore moins un état surnaturel, bien qu'un glissement dans ce sens ait été observé dans nombre d'écoles bouddhiques. Dans l'optique du Sutra du Lotus, c'est un état inhérent à toute vie et que la pratique bouddhique permet de développer. Comme tous les autres états (voir les dix mondes), il contient les 9 autres : la souffrance, le désir, la colère, etc. mais ayant purifié ses racines, le bouddha est maître de ses émotions. La boddhéité, c'est également la compréhension profonde de la réalité de la vie, de la non-substantialité et de l'impermanence. Lorsqu'on parle d'atteindre la boddhéité dans cette vie (issho jobutsu), il ne s'agit nullement d'un statut permanent mais d'un état de vie où prédominent les caractéristiques propres au bouddha. Cet état est aussi fluctuant que les 9 autres.


  Dịch là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền năo thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đă đạt được ở quả vị của các ngài.

Boddhi Dharma        Bồ Đề Đạt Ma    Bodhidharma    菩提達磨    Bodhidharma
Moine bouddhiste probablement originaire du sud de l'Inde, est considéré comme le fondateur en Chine de l'école Chán /Tch’an (禪), courant contemplatif (dhyāna) du mahāyāna. Bodhidharma est considéré comme le 28e patriarche et comme le premier patriarche chinois.

  470-543. Là Tổ thứ 28 sau Phật Thích-ca Mâu-ni của ḍng Thiền Ấn Độ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc.
Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Đế không thành, Bồ-đề-đạt-ma đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề-đạt-ma tu thiền định, chín năm quay mặt vào vách không nói; cũng tại đây, Huệ Khả đă gặp Bồ-đề-đạt-ma để lại truyền thuyết bất hủ về việc quyết tâm học đạo của ḿnh.

Bodhisattva        Bồ tát    Bodhisattva    菩薩    Bodhisattva
Celui qui pratique avec le vœu de devenir un Bouddha afin de libérer tous les êtres de la souffrance en les amenant à l'Éveil.

  Bồ Tát là lối viết tắt của Bồ-đề-tát-đỏa, dịch ư là Giác hữu t́nh (chúng sanh hữu t́nh đă giác ngộ và giúp cho chúng sanh hữu t́nh khác cũng được giác ngộ như ḿnh), hoặc Đại sĩ.
Bồ Tát là người có ḷng Từ Bi đi song song với Trí huệ. Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lănh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức ḿnh cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ tát bắt đầu bằng phát tâm Bồ-đề và giữ Bồ Tát hạnh nguyện. Hành tŕnh tu học của Bồ Tát theo kinh Hoa Nghiêm th́ có 52 quả vị gồm Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập địa và hai quả vị cuối cùng là Đẳng giác và Diệu giác.

Bodhisattva Avaloskiteshvara        Bồ Tát Quán Thế Âm    Avalokitesvara Bodhisattva     觀世音菩薩    Avalokiteśvara Bodhisattva
Le Bodhisattva Avalokiteshvara a la qualité de grande compassion, aimant tous les êtres comme une mère aime son enfant unique. Il est toujours à l’écoute des appels de détresse venant des endroits malheureux pour aller porter secours aux gens.
Selon le soutra du Lotus, il peut s’incarner sous 33 apparences, depuis Bouddha jusqu’à simple homme ou femme. Il utilise sans peur 14 forces pour sauver les êtres des fléaux ou répondre aux sollicitations légitimes des gens qui implorent son nom.
D’après le soutra Surangama, ce Bodhisattva possède le don de percevoir les 5 sens par son oreille. Ainsi il peut s’incarner sous différentes formes pour sauver les êtres surtout dans des situations où il y a le feu, l’eau, les diables féroces et armés.

  Quán Thế Âm là vị Bồ tát có hạnh nguyện đại từ, đại bi, thương yêu tất cả chúng sinh muôn loài như người mẹ thương yêu đứa con duy nhất của ḿnh. Ngài luôn quán sát, lắng nghe âm thanh kêu cứu, cầu nguyện của chúng sinh từ những nơi đau khổ để kịp thời đến cứu giúp.
Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn th́ Ngài thường vận dụng 14 năng lực vô úy để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính đáng khi nào chúng sinh thành tâm niệm đến danh hiệu của Ngài.
Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm th́ pháp môn tu của vị Bồ-tát nầy là Nhĩ Căn Viên Thông, nghĩa là tai Ngài có thể được sử dụng như năm giác quan khác. V́ vậy Ngài có thể hiện thân trong mọi h́nh dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm.

Bodhisattva Ksitigarbha        Bồ Tát Địa Tạng    Ksitigarbha Bodhisattva    地藏菩薩    Kṣitigarbha Bodhisattva
Est l'un des huit grands bodhisattvas. Son vœu est de devenir bouddha une fois l'enfer complètement vide ; il est chargé de sauver les êtres de la souffrance pendant la longue période allant du parinirvāna du bouddha Shākyamuni jusqu’à l’arrivée du futur bouddha Maitreya.
Selon les livres sacrés, le Bodhisattva Ksitigarbha a reçu du Bouddha la mission d’éduquer, de secourir tous les êtres sensibles des six mondes, dans la période qui suit l’atteinte du Nirvana du Bouddha et avant que Maitreya ne devienne Bouddha, avec ce vœu : “Tant qu’il y a des gens malheureux en enfer je ne deviendrai pas Bouddha, je n’atteindrai le bodhi que quand j’aurai sauvé tout le monde”. C’est pour cela qu’il est surnommé le Bodhisattva au Grand Vœu.
Le bodhisattva apparaît dans le monde de Saha sous différentes formes pour secourir les êtres sensibles. Cependant on le connaît la plupart du temps comme un moine à l’aspect solennel avec un bâton à la main droite et une brillante pierre précieuse à la main gauche, la tête revêtue d’un nimbe, debout ou assis sur un lion sacré. Le lion sacré connaît tout de la terre et du ciel dès son apparition sur terre. Le Bodhisattva sur le lion sacré montre qu’il a acquis la sérénité de l’esprit et dominé les méthodes contemplatives.

  Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa.
Căn cứ kinh điển ghi chép th́ Bồ-tát Địa Tạng đă nhận lời phó chúc của Đức Thế Tôn, đảm trách việc giáo hóa, cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo trong khoảng thời gian sau khi Đức Thích Tôn nhập niết-bàn và trước trước khi Đức Di-lặc thành Phật, với lời thề nguyện: “Nếu địa ngục chưa hết chúng sinh đau khổ th́ sẽ không thành Phật, chừng nào độ hết chúng sinh th́ mới chứng quả Bồ-đề”. Bởi do lời thề nguyện đó nên ngài được tôn xưng là Đại Nguyện Bồ-tát.
Bồ tát thường tùy nguyện ứng hiện vào thế giới Ta-bà bằng nhiều h́nh tướng sai khác để hóa độ chúng sinh. Tuy nhiên đa phần chúng ta biết đến Ngài qua h́nh ảnh một vị Tỳ-kheo thân tướng trang nghiêm, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm hạt minh châu, đầu đội mũ tỳ lư quán đảnh đứng hoặc ngồi trên con Đế thính. Sở dĩ Ngài hiện thân tướng Tỳ-kheo, do v́ bản nguyện của Ngài là cứu độ chúng sinh ra khỏi cảnh giới sinh tử, nên h́nh ảnh ngài là một con người giải thoát (xuất gia). Tay phải cầm tích trượng, trên đầu tích trượng có mười hai khoen để nói lên ư nghĩa, ngài luôn dùng pháp Thập nhị nhân duyên để giáo hóa chúng sinh. Tay trái cầm hạt minh châu biểu thị trí tuệ. Bồ tát với trí tuệ rộng lớn thường soi sáng tất cả chốn u minh khiến cho chúng sinh hiện đang bị giam cầm trong ngục tối trông thấy ánh sáng đều được thoát ngục h́nh. Bồ tát cỡi con Đế thính, Đế thính là con linh thú, khi mọp xuống đất trong giây lát th́ biết rơ tất cả sự vật trong trời đất. Bồ tát cỡi con Đế thính dụ cho ngài là vị đă nhiếp tâm thanh tịnh, an lập các pháp thức thành tựu cảnh giới thiền định.

Bodhisattva Mahasthamaprapta        Đại Thế Chí Bồ Tát         大勢至菩薩    Mahā-sthāma-prāpta
Mahasthamaprapta , littéralement « arrivée d'une grande puissance », (sk. Mahāsthāmaprāpta, ch: Dàsh́zh́ 大勢至; ou dàsh́zh́ púsà 大勢至菩薩, jp: Seishi 勢至), est un grand bodhisattva du Paradis Occidental de la Béatitude (sk. Sukhāvatī. ch. Xīfāng jílè sh́jiè 西方極樂世界). Il aide le bouddha Amitābha à accueillir tous ceux qui ont rempli les conditions pour aller dans ce paradis merveilleux admiré et loué par les bouddhas de toutes les directions. L'école de la Terre Pure le vénère avec Amitābha et le grand bodhisattva Avalokiteśvara comme l'un des Trois Saints de l'ouest (ch. Xīfāng sānshèng 西方三聖). Il est présenté comme l'acolyte de droite d'Amitābha et représente le pouvoir de la sagesse, tandis qu'Avalokiteśvara est l'acolyte de gauche et représente la grande compassion.

Ayant réussi à arriver à la dixième terre de bodhisattva en concentrant son esprit sur le bouddha Amitābha et en récitant son nom, il est considéré comme le premier patriarche de l'école de la Terre pure. Comme Avalokiteśvara, il est souvent représenté dans le bouddhisme chinois sous forme féminine.

Son association avec Amitābha et Avalokiteśvara se base sur les textes suivants:

Canon de l’école de la Terre Pure : Le grand Sūtra de la Vie-Infinie, (sk. Mahāyāna Amitāyus sūtra, ch. Dàchéng wúliàngsḥu jīng 《大乘無量壽經》), Sūtra des contemplations, (sk. Vipaśyana Amitāyus sūtra, ch. Guān wúliàngsḥu jīng 《觀無量壽經》).
Sūtra Shurangama, (ch. Léngyán jīng 《楞嚴經》), dans ce soutra, ce grand bodhisattva relate qu'il est parvenu à l’illumination grâce à la récitation constante du nom du bouddha Amitābha ou de la formule Nāmo Amitābhāya en concentrant son esprit sur ce bouddha.
Sūtra de la grande compassion dans lequel le futur Amitābha est un roi protecteur du dharma dont les quatre fils sont Avalokiteśvara, Mahāsthāmaprāpta, Mañjuśrī et Samantabhadra. Lorsqu’il accède à l’état de bouddha, ses deux fils aînés deviennent ses acolytes.
Mahāsthāmaprāpta est aussi l’un des Treize bouddhas de l’école japonaise Shingon où il apparaît dans le mandala du monde de la matrice. Le fondateur de la branche japonaise de cette école, Honen Shonin, est parfois considéré comme son incarnation.

Par ailleurs, le Sutra du Lotus le compte au nombre de ceux qui s'assemblèrent sur le Pic du Vautour pour écouter le prêche de Shākyamouni. Le Gautama Bouddha lui dédie le chapitre XX qui illustre l'étendue de la compassion. Le Commentaire du Sūtra du Lotus rédigé par Guàndǐng 灌頂(561-632), patriarche du courant Tiantai, compare Avalokiteśvara au Soleil et Mahāsthāmaprāpta à la Lune.
(source Wikipédia)

  Bồ tát Đại thế chí là vị Bồ tát có nhân duyên rất lớn đối với chúng sanh trong thế giới Ta bà. Ngài là vị Bồ tát đă thành Phật trong kiếp quá khứ, nhưng v́ t́nh thương chúng sanh bao la mà thừa nguyện tái lai, thị hiện làm thân Bồ tát để trợ giúp Phật A di đà giáo hoá và tiếp dẫn chúng sanh khổ đau trong mười phương thế giới.

Bồ tát Đại thế chí c̣n gọi là Đắc đại thế Bồ tát, Đại tinh tấn Bồ tát, Vô biên quang Bồ tát... Đại thế chí Bồ tát dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp mọi loài, làm cho chúng sanh trong mười phương thế giới thoát khổ, thành tựu quả vị Vô thượng bồ đề. Ngài có hạnh nguyện đại hùng, đại lực, đại từ bi, dùng hạnh nguyện này để ở trong thế giới Ta bà, điều phục và tiếp độ hạng chúng sanh cang cường khó độ. Ngài cũng có sức tinh tấn vĩ đại, điều phục các phiền năo và giáo hoá chúng sanh không bao giờ mệt mỏi. Thân Bồ tát có màu vàng tử kim chiếu khắp mười phương thế giới, chúng sanh nào có duyên thấy liền được thấy ánh quang minh tịnh diệu của vô lượng chư Phật ở khắp mười phương thế giới cho nên Ngài c̣n có hiệu là Vô biên quang Bồ tát.

Bồ tát thường đứng bên tay phải của đức Phật A di đà đối diện với Bồ tát Quán thế âm, để biểu thị Ngài là một trong các vị thượng thủ trong chúng hội Bồ tát.

Bồ tát Quán thế âm biểu thị cho tinh thần đại bi, Bồ tát Đại thế chí biểu thị cho tinh thần đại trí, qua đó nhằm nói lên ư nghĩa người tu hành cần phải có bi trí viên măn mới thành tựu được Phật đạo.

Theo kinh Quán Vô lượng thọ, vô lượng hằng sa kiếp về trước thời Phật Bảo tạng, Ngài là thái tử Ni ma và Bồ tát Quán thế âm là thái tử Bất huyền con của vua Vô tránh niệm. Bấy giờ vua Vô tránh niệm cùng với hai vị thái tử đến đạo tràng cúng dường Phật Bảo tạng. Sau khi nghe Phật thuyết pháp, vua cùng hai vị thái tử phát Bồ đề tâm... được Phật thọ kư tương lai sẽ thành Phật.

Vua Vô tránh niệm tương lai sẽ thành Phật hiệu là A di đà Như lai ở thế giới Tây phương cực lạc, thái tử Bất huyền sẽ thành Phật hiệu là Biến xuất nhất thiết quang minh công đức sơn vương Như lai, c̣n thái tử Ni ma sẽ thành Phật hiệu là Thiện trụ công đức bảo vương Như lai.

Theo chương Niệm Phật viên thông trong kinh Thủ lăng nghiêm, Bồ tát Đại thế chí khi c̣n ở nhân địa tu hành, do chí tâm niệm Phật mà được nhập vào Vô sanh pháp nhẫn, cho nên nay dẫn dắt chúng sanh niệm Phật ở thế giới Ta bà về Tây phương tịnh độ.

Lư tưởng tu hành của Bồ tát là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh”. Muốn thành tựu lư tưởng cao cả đó, trên bước đường tu hành chư vị Bồ tát đều phát thệ nguyện.

Bồ tát Đại thế chí thệ nguyện độ chúng sanh tội chướng cực nặng trong mười phương thế giới, bất cứ chúng sanh nào tŕ niệm thánh hiệu Ngài sẽ được Ngài hiện thân cứu độ và khi lâm chung Ngài sẽ hiện thân đến tiếp dẫn văng sanh Tây phương, đây là thể hiện ḷng thương xót chúng sanh đặc biệt của Bồ tát.

Bodhisattva Manjushri         Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi        文殊師利    Mañjuśrī
Le nom du Bodhisattva Manjushri a pour significations Bienfait admirable, Bonté admirable, Bonheur admirable, Digne disciple du Dharma.

Dans la tradition du Bouddhisme du Grand Véhicule (Mahāyāna), le Bodhisattva incarne l’esprit. Il est souvent représenté sur le dos d’un lion vert, tenant à la main droite une épée tranchante, à la main gauche une fleur de lotus verte ou le Soutra de la Sagesse ou encore la Perle de l’Esprit. Il brandit au-dessus de sa tête une épée de feu qui est l’arme spirituelle pour briser les chaînes de l’ignorance et de l’affliction qui lient les humains aux douleurs et malheurs du cycle de la réincarnation sans fin, pour les emmener vers la Spiritualité parfaite.

La fleur de lotus dans sa main gauche représente la qualité lavée de toute affliction et cela signifie que le Bodhisattva dans l’esprit de compassion vient au monde pour sauver les êtres humains sans être sali par les impuretés de la vie, gardant ainsi toute sa sérénité. S’il tient le Soutra de la Sagesse, il représente l’esprit d’éveil. Le lion est le symbole de la force de l’esprit – c’est le roi des animaux à la force immense qui terrorise les autres animaux par son rugissement – le Bodhisattva a acquis l’esprit parfait et par sa bonne parole peut détruire toutes les mauvaises influences.

Le Bodhisattva Manjushri incarne l’atteinte de l’éveil par les voies de l’esprit.

  Thường gọi tắt là Bồ Tát Văn Thù, là vị Bồ-tát có công đức vi diệu, luôn đem đến sự tốt đẹp vi diệu, luôn đem đến sự hạnh phúc, an lạc vi diệu, xứng đáng là con của bậc Pháp vương. Trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho trí tuệ. Ngài thường ngồi trên lưng Sư tử xanh, tay phải cầm kiếm sắc bén, tay trái cầm hoa sen xanh, hoặc cuốn kinh Bát-nhă, đôi khi là ngọc như ư. Tay phải của Ngài dương cao lên khỏi đầu là một lưỡi gươm đang bốc lửa mang hàm ư rằng chính lưỡi gươm vàng trí tuệ này sẽ chặt đứt tất cả những xiềng xích trói buộc của vô minh phiền năo đă cột chặt con người vào những khổ đau và bất hạnh của ṿng sinh tử luân hồi bất tận, đưa con người đến trí tuệ viên măn. Tay trái Ngài cầm hoa sen biểu thị cho đức tính đă đoạn trừ sạch mọi phiền năo và ngụ ư nói Bồ tát với tâm Từ Bi, tùy nguyện thị hiện vào cuộc đời để hóa độ chúng sinh nhưng không bị những nhiễm ô của cuộc đời làm vấy nhiễm mà luôn thuần nhất thanh tịnh; nhưng nếu Ngài cầm cuốn kinh Bát-nhă th́ biểu trưng cho sự tỉnh thức, giác ngộ. C̣n sư tử là biểu thị công năng và sức mạnh của trí tuệ - bởi sư tử là chúa tể của muôn thú có sức mạnh vĩ đại, mỗi khi rống lên muôn thú đều khiếp sợ - Bồ-tát do đă đạt được trí tuệ viên măn nên hay thuyết pháp phá dẹp các tà thuyết sai lạc. Văn Thù Sư Lợi là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ đạt được bằng phương tiện tri thức.

Bodhisattva Samantabhadra        Bồ Tát Phổ Hiền        普賢菩薩    Samantabhadra Bodhisattva
Le Bodhisattva Samantabhadra a le grand vœu, consistant à faire toutes les bonnes actions nécessaires pour apporter le bonheur et l’atteinte de l’éveil aux gens. Le vœu consiste aussi à atteindre l’éveil et secourir les gens. Ainsi tous ceux qui font le vœu de faire les bonnes actions et d’aider les autres à atteindre la rive de l’éveil sont appelés Bodhisattvas Samantabhadra.

L’image du Bodhisattva sur le dos d’un éléphant blanc représente le vœu ardent. Parmi les animaux dotés d’une force pour le transport, l’éléphant est le plus fort de tous. Il peut transporter les hommes et les animaux d’un endroit à un autre. Le Bodhisattva Samantabhadra en fait de même, il fait le grand vœu de secourir les êtres humains, en les transportant de la rive de l’ignorance vers le bord de l’éveil. L’éléphant blanc signifie aussi que le Bodhisattva, bien qu’il soit dans le monde plein d’impuretés pour secourir les êtres, n’est nullement sali et garde l’esprit pur. Les 6 défenses d’éléphant représentent les 6 moyens, les 6 pratiques des Bodhisattvas pour atteindre l’éveil (les six Paramitas).

  Bồ-tát Phổ Hiền là vị Bồ-tát có hạnh nguyện rộng lớn. Hạnh ở đây có nghĩa là tất cả các hành động lợi tha, dù lớn hay nhỏ, nếu đem đến lợi ích, hạnh phúc và giác ngộ cho chúng sinh th́ Bồ-tát đều tích cực thực hiện. Nguyện là ước nguyện, mong ước, nghĩa là mong ước trên thành Phật đạo dưới hóa độ tất cả chúng sinh. Như vậy, ư nghĩa hạnh nguyện là tu tập muôn hạnh để mong cầu thành tựu Phật đạo hóa độ chúng sinh. Do đó, những ai mang hạnh nguyện làm lợi ích cho tha nhân, đưa mọi chúng sinh đến bến bờ giải thoát đều được gọi là Bồ-tát Phổ Hiền.

H́nh ảnh Bồ-tát ngồi trên lưng voi trắng biểu thị hạnh nguyện rộng lớn. Trong các loài thú có sức mạnh về chuyên chở th́ voi là loài mạnh hơn cả. Nó hay chuyên chở người và vật từ chỗ này sang chỗ khác. Bồ-tát Phổ Hiền cũng thế, dùng đại hạnh hóa độ chúng sinh, đưa họ từ bờ mê sang bến giác. Voi trắng c̣n biểu thị ư nghĩa Bồ-tát tuy lăn lộn trong trần thế ô nhiễm để hóa độ chúng sinh, nhưng ngài không vướng nhiễm bụi trần, tâm hoàn toàn trong sạch. Sáu ngà là trượng trưng cho sáu phương tiện, sáu công hạnh tu tập của chư vị Bồ-tát (lục độ ba-la-mật). Tóm thâu h́nh ảnh Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi trắng sáu ngà nói lên ư nghĩa ngài là vị Bồ-tát với tâm bồ-đề vững mạnh, tâm hoàn toàn trong sáng, khéo vận dụng lục độ ba-la-mật làm phương tiện để giáo hóa độ sinh.

Bodhisattva Skanda        Bồ Tát Hộ Pháp    Skanda Bodhisattva    韋馱天    Skanda
Skanda est 1 des 8 généraux des régions du sud, et aussi le premier des 32 officiers sous la direction des 4 rois célestes. Ce dieu est intelligent dès sa naissance, il a su se libérer très tôt des impuretés terrestres et a atteint la sérénité par la pratique. Il a émis le vœu devant le Bouddha de protéger les gens qui pratiquent le Dharma et récitent les mantras, contre les dangers et les mauvaises influences dans leur pratique bouddhique.

De par sa mission de protection du Dharma et des gens qui le pratiquent, il est aussi souvent appelé le Bodhisattva de la protection du Dharma.

Dans le bouddhisme du Grand Véhicule, Bodhisattva de la protection du Dharma (Dharmapala) désigne toutes les personnes qui protègent le Dharma.

  Skanda là 1 trong 8 vị Đại tướng quân trời Tăng trưởng phương Nam, đồng thời là người đứng đầu 32 vị tướng quân dưới quyền Tứ thiên vương. Vị thần này sinh ra đă thông minh, sớm ĺa dục thế gian, tu phạm hạnh đồng chân thanh tịnh. Vị thần này đă từng phát nguyện với Đức Phật rằng, nếu người nào hành tŕ chánh pháp, tụng đọc thần chú, th́ sẽ được bảo hộ cho an ổn, thoát khỏi những hiểm nguy và những ảnh hưởng xấu liên quan đến việc tu học.

Do chuyên trách bảo vệ chánh pháp và hộ tŕ cho những ai tu tập theo Phật giáo nên thường gọi là Bồ-tát Hộ Pháp.

Trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, Bồ-tát Hộ Pháp (Dhamrmapāla Bodhisattva) là danh từ chung chỉ cho tất cả những người bảo vệ và hộ tŕ chánh pháp.


bosquet de shala        Sa la thụ         娑羅樹    śāla
bosquet de shala. Le shala ou sarja, sala (shorea robusta, shara-ju, 沙羅樹) est un arbre aux feuilles vertes persistantes que l'on trouve au nord de l'Inde et dont les fleurs jaunes pâle ressemblent à des camélias. Le bosquet d'arbres shala fut celui où Shakyamuni exposa son dernier enseignement, le Sutra du Nirvana, et le lieu où il mourut. Une légende raconte que les arbres shala se mirent à fleurir et inclinèrent leurs branches pour lui rendre hommage.

  Cây sa-la, tiếng Phạm là śāla, tiếng Pāli là sāla, tiếng Tây tạng là sa-li-ljon-pa. C̣n gọi là cây tát-la, cây tô-liên. Dịch ư là cây kiên cố, hoặc cây cao viễn. Tên khoa học là Shorea Robusta, thuộc họ cây long năo hương. Thân cây cao mà cong (kiều mộc), mọc nhiều ở vùng nhiệt đới, như Ấn độ, Bangladesh… Cây cao khoảng 10 trượng (100 feet); lá h́nh bầu dục dài, đầu lá nhọn, dài khoảng 16-25cm, rộng khoảng 10-16cm; hoa nhỏ, màu vàng lợt; trái có hạt có thể ép lấy dầu; gỗ rất cứng, có thể làm vật liệu kiến trúc, cũng có thể làm khí cụ và đóng thuyền…
Theo lịch sử Phật giáo, trong 7 đức Phật quá khứ, th́ đức Phật thứ 3 là T́-xá-phù (Vessabhu) đă thành đạo dưới gốc cây này. Kinh Đại bản trong Trường A-hàm, quyển 1 ghi: “Đức Phật T́-xá-bà ngồi dưới gốc cây sa-la thành chính giác tối thượng”. Kinh Thất Phật phụ mẫu tính tự, ghi: “Đức Phật Tuỳ Diệp lúc đắc đạo thành Phật Ngài ngồi dưới cây sa-la”.
Rừng cây sa-la ngoài thành Câu-thi-na (Kuśinagara) là nơi đức Thích tôn nhập bát-niết-bàn. Kinh Du hành trong Trường A-hàm quyển 4 đă ghi: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở ngoài thành Câu-thi-na, trong rừng cây sa-la, Ngài nằm giữa hai cây mà vào niết-bàn”.
Theo phẩm Ứng tận hoàn nguyên của kinh Đại bát-niết-bàn hậu phần, quyển thượng, th́: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn nằm nghỉ trên giường báu ở trong rừng sa-la, vào lúc nửa đêm, Ngài nhập Tứ thiền, vắng lặng tuyệt đối, rồi vụt chốc vào bát-niết-bàn. Sau khi Đại giác Thế Tôn vào niết-bàn, quanh chỗ Ngài nằm bốn phía đông tây nam bắc đều có cây sa-la một gốc hai nhánh, bấy giờ đều hợp lại thành một rủ xuống che trùm giường báu của Như Lai, v́ quá thảm thương, chỉ trong chốc lát những cây sa-la đều biến thành màu trắng, giống như bạch hạc, cành lá hoa quả và vỏ cây đều nứt ra rơi xuống đất, rồi dần dần khô héo”.

Bouddha        Phật    Buddha    佛    Buddha
Littéralement l’Éveillé. Trois significations relativement différentes :
- Le Bouddha historique, fondateur du bouddhisme, Shakyamuni.
- Des bouddhas du Mahayana tels que Amida, Vairocana, ou des bouddhas d’un passé antéhistorique comme par exemple Taho. Généralement ces bouddhas illustrent des qualités spécifiques de l’Eveil et sont, le plus souvent, à considérer d’un point de vue symbolique ou comme objets de méditation.
- bouddha, celui qui a réalisé l’Eveil bouddhique. En Inde, ce terme désignait à l'origine tout être qui avait acquis une sagesse ou des "pouvoirs" supérieurs à celui des simples mortels. Après Shakyamuni il en vint à signifier "celui qui s'est éveillé à la vérité ultime de la vie". Dans la doctrine theravada, il désigne celui qui a atteint le stade de nirvana où le corps aussi bien que l'esprit se sont éteints. Le Mahayana provisoire enseigne en général que l'on ne peut devenir bouddha qu'après avoir détruit les illusions au cours d'éternités de pratiques austères et méritoires, en acquérant progressivement les trente-deux caractéristiques d'un bouddha.
Le Sutra du Lotus met l'accent sur des qualités plus spirituelles, dont voici les principales :
1) Le bouddha perçoit le véritable aspect de tous les phénomènes et guide les hommes pour les faire parvenir au même Eveil et les délivrer ainsi de leurs souffrances.
2) Le bouddha possède les trois vertus de souverain, maître et parent (santoku).
3) Le corps du bouddha est doté de trois propriétés (sanjin)
4) Le bouddha s'est libéré des illusions et perçoit la vie au delà des dualités : vie/mort, sujet/objet, bien/mal, etc.
5) Le bouddha se situe en dehors des notions du temps et de l'espace.
6) Le bouddha est inhérent à la vie-même et latent en tout être.

  Gọi đủ là Phật đà: Người giác ngộ chân lư, là bậc Đại thánh đầy đủ sự tự giác ngộ, giúp người khác giác ngộ, và có phương pháp để đạt được sự giác ngộ một cách viên măn.
Phật là người thấy biết tính và tướng của hết thảy các pháp đúng như thật, thành tựu Đẳng chánh giác, là quả vị cao nhất của Phật giáo.

Bouddha Amitabha        Phật A Di Đà    Amitabha Budha    阿彌陀佛    Amitābha Budha
Le Bouddha Amitabha est le chef spirituel du monde Suprême situé à l’ouest de ce monde, appelé aussi la Terre Pure.

Amitabha signifie lumière infinie (représentant un esprit très large et profond), vie infinie (forte médiation), bienfaits infinis (immence délivrance). Actuellement le Bouddha Amitabha en compagnie des deux bodhisattvas Avalokiteshvara et Mahasthamaprapta sont en train de convertir les êtres dans la Terre Pure. Ils ont le pouvoir immense d’accueillir tous les êtres dans la Terre Pure.

Selon le sũtra du mahăyăna sur Vie-Infinie, avant d’atteindre l’éveil le Bouddha Amitabha était un roi qui avait suivi le chemin du culte sous l’égide du Bouddha à cette époque. Avec comme nom de baptême Phap Tang, pendant son apprentissage il a découvert 210 régions de Terre Pure et les pratiques de sérénité pour y parvenir ; il a émis 48 voeux aboutissant à la création d’un monde suprême et solennel afin de sauver tous les êtres qui implorent son nom. Après d’innombrables existences d’apprentissage et de détermination vers la Terre Pure, le moine Phap Tang est devenu Bouddha Amitabha, depuis 10 existences, dans la région Suprême de la Terre Pure située à l’ouest d’un monde éloigné du monde de Saha d’environ 10000 mondes bouddhiques. Grâce aux 48 voeux grands et profonds, en particulier le voeu 18 : " Quand je deviendrai Bouddha je ferai en sorte que les êtres de toute part qui croient et émettent le désir de renaître dans mon monde n’auront qu’à réciter de une à dix fois Nàmo Amita Bouddha; s’ils n’arrivent pas à renaître ainsi je n’atteindrai pas mon éveil". Après être devenu Bouddha (il y a 10 existences), en compagnie des bodhisattvas, il a accueilli au monde Suprême de la Terre Pure tous les êtres réunissant les trois critères : croyance, prière et pratique selon le Dharma.

Le vœu du Bouddha Amitabha est immense, sa compassion est très profonde et la pratique du Dharma est très facile, ce qui fait que beaucoup de gens ont choisi cette discipline pour espérer renaître dans le monde Suprême de la Terre Pure. L’accès à ce monde permet de se libérer totalement du cycle de la renaissance.

  Đức Phật A-di-đà là vị giáo chủ thế giới Cực Lạc nằm ở phương Tây của thế giới này, c̣n gọi là thế giới Tịnh độ. A-di-đà dịch ư có nghĩa là vô lượng quang (ánh sáng vô lượng, biểu trưng cho trí tuệ rộng lớn), vô lượng thọ (tuổi thọ không hạn lượng, biểu thị định lực thâm sâu), và vô lượng công đức (biểu thị giới đức giải thoát). Hiện nay, Ngài cùng với hai vị Bồ-tát là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đang giáo hóa chúng sinh ở Tịnh độ Cực Lạc. Quư Ngài có bi nguyện vĩ đại là tiếp độ tất cả những chúng sinh về thế giới Cực Lạc.

Theo kinh Vô lượng thọ, trước khi thành đạo, Phật A-di-đà vốn là một vị vua, nhờ được Đức Phật Thế Tự Tại khai thị mà phát tâm xuất gia cầu đạo vô thượng, có pháp danh là Pháp Tạng. Trong khi tu hành, Tỳ-kheo Pháp Tạng đă quan sát 210 ức cơi Tịnh độ của chư Phật và những hạnh thanh tịnh để thành tựu cơi nước vi diệu đó, rồi phát ra 48 đại nguyện, thệ nguyện kiến lập một thế giới trang nghiêm, cực lạc, để cứu độ tất cả chúng sinh niệm danh hiệu của Ngài. Trải qua vô số kiếp nỗ lực tu tập, một ḷng chuyên chí trang nghiêm Tịnh độ, cho nên, cách đây mười kiếp, Tỳ-kheo Pháp Tạng đă thành Phật, hiệu là A-di-đà, cơi Tịnh độ tên là Cực Lạc, nằm ở Phương tây, cách thế giới Ta-bà khoảng mười vạn ức cơi Phật. Bởi 48 lời thề nguyện sâu xa và rộng lớn, mà đặc biệt là điều nguyện thứ 18: "Nguyện khi Ta (Phật A-di-đà) thành Phật, tất cả chúng sinh trong mười phương nếu có ḷng tin và ưa muốn sinh về thế giới của Ta, th́ chỉ cần niệm từ một đến mười danh hiệu "Nam-mô A-di-đà Phật" ; nếu không được văng sinh th́ Ta thề không giữ ngôi Chánh giác", nên sau khi Ngài thành Phật (Ngài đă thành Phật cách đây mười kiếp), bất kỳ chúng sinh nào hội đủ ba yếu tố: tin tưởng, nguyện cầu và thực hành niệm Phật, niệm Phật đúng như pháp, th́ nhất định được Đức Phật A-di-đà và các Bồ-tát đến tiếp dẫn về thế giới Tịnh độ Cực Lạc.
Bi nguyện của Phật A-di-đà cực kỳ rộng lớn, từ tâm của Ngài cực kỳ sâu xa, mà pháp môn niệm Phật th́ rất dễ thực hành, cho nên rất nhiều người đă chọn pháp môn này để thực hành, nguyện cầu được sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Sinh về đó là nấc thang thoát ly sinh tử luân hồi để cho chúng ta bước lên địa vị cứu cánh giải thoát.

Tịnh độ của Đức Phật A-di-đà được gọi là Cực Lạc, bởi v́ ở thế giới đó hoàn toàn không có sự khổ đau, không có cảnh sinh, già, bệnh, chết... chúng sinh ở cơi đó chỉ sống trong hạnh phúc và luôn được nuôi dưỡng bởi chính pháp cho đến ngày thành Phật.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13