Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Recherche par mot

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Recherche par lettre
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Recherche par genre:
BouddhasSûtrasNoms-LieuxTermes

Bilingue
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13 

Illumination        Ngộ        悟    
illumination (satori, 悟). Compréhension soudaine d'une vérité spirituelle. Le terme est principamement employé dans le Zen. Le bouddhisme du Lotus lui préfère le terme de jobutsu, 成仏, atteinte de la boddhéité ou Eveil.



  Ngộ, tỉnh ngộ, giác ngộ, hiểu ra sự thật, thấy được chân lư. Chấp mê bất ngộ 執迷不悟 là mê muội măi không tỉnh ngộ; hoát nhiên đại ngộ 恍然大悟 là bỗng nhiên tỉnh ngộ, bừng tỉnh.

Illumination        Giác ngộ    Become enlightened    覺悟    
illumination (satori, 悟). Compréhension soudaine d'une vérité spirituelle. Le terme est principamement employé dans le Zen. Le bouddhisme du Lotus lui préfère le terme de jobutsu, 成仏, atteinte de la boddhéité ou Eveil.



  Thấy được chân lư, khai mở được trí tuệ chân thật.

Illusion        Vọng tưởng    forget thoughts, mistaken thought or conceptualization    妄想    vikalpa
  Cũng gọi: Phân biệt, Vọng tưởng phân biệt, Hư vọng phân biệt, Vọng tưởng điên đảo.
Đồng nghĩa: Vọng niệm, Vọng chấp.
Tức phân biệt tướng các pháp với tâm hư vọng điên đảo, cũng có nghĩa là do tâm chấp trước nên không thấy biết được sự vật một cách như thật.

Kinh Lăng già quyển 2 nêu ra 12 thứ vọng tưởng như sau:
1. Ngôn thuyết vọng tưởng: Phân biệt các thứ âm thanh hát xướng, ngâm vịnh, chấp giữ và đắm say chúng, cho rằng chúng có tự tính.
2. Sở thuyết sự vọng tưởng: Những việc mà phàm phu nói ra, xét đến cùng chỗ tự tính của chúng th́ chỉ bậc Thánh mới biết chứ phàm phu không rơ; phàm phi chỉ nương vào các việc ấy mà phát sinh ra lời nói thôi.
3. Tướng vọng tưởng: Tuỳ việc mà khỏi lên cái thấy, đối với tất cả pháp tướng, tính toán, chấp trước một cách hư dối.
4. Lợi vọng tưởng: Đắm trước các thứ tài lợi ở thế gian, v́ không biết rằng những tài lợi ấy là hư dối, nên khởi tâm tham đắm.
5. Tự tính vọng tưởng: Chấp trước các pháp, khởi lên cái thấy có tự tính, rồi cho tự tính ấy là đúng, không phải tự tính ấy là sai.
6. Nhân vọng tưởng: Đối với các pháp do nhân duyên sinh, khởi lên kiến chấp có, không... vọng tưởng phân biệt mà h́nh thành cái nhân của sự sinh tử.
7. Kiến vọng tưởng: Đối với pháp 5 uẩn, sinh khởi các tà kiến chấp trước, phân biệt, có - không, một - khác...
8. Thành vọng tưởng: Đối với giả danh thực pháp, so đó cháp trước Ngă và Ngă sở mà khởi lên ngôn thuyết, thành Quyết định luận.
9. Sinh vọng tưởng: Vọng chấp tất cả pháp, hoặc có hoặc không, đều từ duyên khởi mà sinh phân biệt.
10. Bất sinh vọng tưởng: Vọng chấp tất cả pháp đều có sẵn tự thể, không nhờ nhân duyên mới sinh.
11. Tương tục vọng tưởng: Đối với tất cả các pháp, chấp trước chúng hệ thuộc lẫn nhau, nối tiếp lẫn nhau, không có gián đoạn.
12. Phược bất phược vọng tưởng: Đối với tất cả pháp, v́ t́nh sinh dính mắc, th́ thành trói buộc, nếu ĺa vọng tưởng th́ sẽ không bị trói buộc, phàm phu không rơ, cho nên ở trong chỗ không trói buộc, không cởi mà sinh chấp trước.

impermanence des multiples mouvements        Chư hành vô thường    Whatever is phenomenal is impermanent.    諸行無常    Anityāḥ sarva-saṃskārāḥ
impermanence des multiples mouvements (sho gyo mujo, 諸行無常, anitya sarvasamskara). "Mouvements" est à prendre au sens le plus large, l'expression désigne ce qui se meut ou peut être mû, mais aussi toutes les notions que recouvre l'acte (pulsions, agissements, volition). Il faut envisager l'acte sous ses aspects physiques, mentaux et psychologiques, voire comme acte passé ayant une rétribution à produire. Les multiples mouvements désignent tout ce qui se produit (ui, le composé) c'est à dire ce qui naît, ce qui disparaît et ce qui change. Rien n'est jamais dans un état de stabilité et donc l'état dans lequel toute chose se présente est forcément transitoire et par-là même impermanent. Ce que le sens commun nous pousse à considérer comme de la matière apparaît à la lumière du bouddhisme comme des formes, des énergies et des processus. La profonde compréhension de l'impermanence permet de ne pas s'attacher aux phénomènes, aux pesonnes aux objets et conduit vers la libération.

  Hết thảy hiện tượng và muôn vật trong thế gian luôn luôn biến chuyển không ngừng. Đây là đại cương căn bản của Phật pháp. Cùng với Chư pháp vô ngă, Niết bàn tịch tĩnh cùng là một trong ba pháp ấn, gọi là Chư hành vô thường ấn, Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn. Gọi là ba pháp ân, tức là nhờ vào ba thứ pháp môn mà phán đoán được Phật pháp có cùng tột hay không.

Impermanent        Vô thường    Impermanent    無常    Anitya
Loi universelle qui s'applique à tous les phénomènes de l'univers. Tous les phénomènes qui sont apparus vont disparaître. La durée des phénomènes dépend des causes qui les font naître. Quand les causes disparaissent, les phénomènes disparaissent. L'appréciation de la durée est totalement subjective : toujours trop longue pour les phénomènes désagréables et trop courte pour ce qui est agréable. L’apparition et la disparition dans de nombreux cas est difficile à saisir. La rapidité de leur succession donne l’impression d’une parfaite continuité du corps et de l’esprit. Mais en fait cela pourrait être comparé à une mélodie qui est une succession de notes. La mélodie n'a pas d'existence en soi ; on dit qu'elle est non-substantielle. Elle a une réalité éphémère grâce au rapprochement momentané d'un certain nombre de notes. Mais on ne peut pas dire non plus que la mélodie n'existe pas, puisqu'elle a un effet sur nos sens. Ainsi le concept d'impermanence introduit la philosophie de la triple évidence (santai) : vacuité, temporalité, médianeté.

  Tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh, tuỳ thuộc 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt mà biến hoá đổi dời trong từng sát na, xưa có nay không, nay có sau không, chẳng lúc nào thường trụ, v́ thế nên gọi chung là Vô thường.

Xem bài Vô thường


Impersonnalité        Vô ngă    Impersonality    無我    anātman, anātmaka, nirātman, ni-rātmika, nairātmya
Non-soi, impersonnalité

  Ngă (ta) tức là vĩnh viễn bất biến (thường), độc lập tự tồn (nhất), là sở hữu chủ trung tâm (chủ), có năng lực chi phối (tể). Nghĩa là: Ta là cái chủ tể thường nhất, vĩnh viễn không thay đổi, tồn tại một cách độc lập, tức là cái linh hồn hoặc bản thể có thật.
Phật giáo không chấp nhận có một cái Ngă như thế, gọi là Vô ngă.
Vô ngă là một trong những giáo nghĩa căn bản của Phật giáo.
Phật giáo nói Vô ngă với mục đích phủ định quan niệm cho rằng vạn pháp có thật thể và có linh hồn tồn tại bất biến trong sinh mạng chúng sinh.
Trong Phật giáo, Vô ngă có hai loại:
1. Nhân vô ngă: con người do vay mượn năm uẩn hoà hợp mà thành, tuyệt đối không có một cái (ngă) chủ thể tồn tại thường hằng, bất biến.
2. Pháp vô ngă: các pháp do nhân duyên hoà hợp mà sanh, luôn luôn thay đổi, tuyệt đối không có một chủ tể thường hằng.
Phật giáo không thừa nhận có một cái ‘ngă’ là chủ thể thường hằng hoặc một ‘thực thể’ tồn tại bất biến. Phật giáo chủ trương tất cả các pháp là Vô ngă, và kiến lập ‘Chư pháp vô ngă’ làm một trong ba dấu ấn chứng nhận chánh pháp.
Các Kinh A-hàm đều nói 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới đều là giả hữu, không có thật thể, không tồn tại một cái ngă.
Vả chăng, để đối trị với bốn quan niệm điên đảo (tứ điên đảo) tịnh, lạc, ngă và thường của thế gian, Đức Phật dạy bốn niệm xứ (tứ niệm xứ) bất tịnh (thân), khổ (thọ), vô ngă (pháp) và vô thường (tâm).
Trong các bộ phái Phật giáo, th́ bộ phái Vātsī-putrīya (Độc-tử bộ) chủ trương trong sinh mạng có một cái ‘ngă không phải đồng nhất cũng không phải thoát ly năm uẩn’, tức là chủ trương ngă và pháp đều có thật, cho nên bị phê phán và gọi tên là ‘ngă pháp câu hữu tông’. Bộ phái Sarvāsti-vādin (Thuyết nhất thiết hữu bộ) th́ chấp nhận con người không có ngă, nhưng lại chủ trương tất cả các pháp là có thật, cho nên bị phê phán và gọi tên là ‘pháp hữu ngă vô tông’.
Đến thời kỳ Phật giáo đại thừa th́ cho rằng con người không có ngă mà các pháp cũng không có ngă, chủ trương ‘nhân vô ngă, pháp vô ngă’.
‘Nhân vô ngă, pháp vô ngă’ cũng c̣n gọi là ‘nhân không, pháp không’.
Kinh điển Phật giáo nguyên thuỷ thường dùng từ ‘vô ngă’, nhưng Phật giáo đại thừa đa phần dùng từ ‘không’. Cho nên cần biết rằng, ‘không’ tức là ‘vô ngă’.
Đại Trí độ luận nói: ‘Tất cả các pháp đều vô ngă. Trong các pháp không có chủ tể, không có tác giả, không biết, không thấy, không có người sinh ra, không có người tạo nghiệp… tất cả đều thuộc nhân duyên; v́ phụ thuộc vào nhân duyên cho nên không được tự tại, v́ không được tự tại cho nên vô ngă, không thể nào nắm bắt được cái tướng của ngă’.


Inconcevable        Bất khả tư nghị        不可思議    Acintya
  Không thể nào suy nghĩ bàn luận ra được, vượt ngoài lư luận. Câu này dùng để tả cái Tuyệt đối, chỉ có ai đạt giác ngộ mới biết.
Phật Thích-ca Mâu-ni khuyên:
"Có bốn hiện tượng bất khả tư nghị, này tỉ-khâu, bốn trường hợp mà người ta không nên suy ngẫm, đó là: năng lực của một vị Phật (pi. buddhavisaya), Định lực (pi. jhāna-visaya), nghiệp lực (pi. kamma-visaya) và suy ngẫm, t́m hiểu thế giới (pi. lokacintā)…" (Tăng nhất bộ kinh, IV. 77).

inconditionné        Vô vi    Non-active    無為    asaṃskṛta
inconditionné (mui ho, 無為, asamskrita) Ce qui n’est pas créé ; l’éternel, l’immuable, le pur. Ce qui est créé ou produit par des causes est impermanent, donc relié à la souffrance. Les facteurs inconditionnés font référence aux idéaux du bouddhisme : boddhéité, nirvana, Dharma atemporel. Au sens propre c'est le contraire de tout ce qui subit la loi de causalité, le conditionné, tous les phénomènes. Cependant certaines écoles emploient ce terme pour désigner un mode de vie détaché, "sans restrictions". Le Sarvastivada distingue trois catégories d'inconditionné : l'espace, la cessation de désirs terrestres et l'arrêt d'apparition des phénomènes par épuisement de leur cause.



  Không tạo tác, tức chẳng phải do nhân duyên tạo ra, là pháp tuyệt đối thường trụ, ĺa sinh diệt biến hoá. Vốn là tên khác của Niết bàn, nhưng đời sau, ngoài Niết bàn c̣n lập nhiều Vô vi, do đó có các thuyết như 3 vô vi, 6 vô vi, 9 vô vi.

infections         Lậu    Leak    漏    Āsrava
infections ou flux empoisonné(ro, asrava, asava). Attraction de l'âme par les objets du monde. Le sanskrit asruta signifie couler de, s'écouler. C'est le flux continuel d'illusions et de désirs qui proviennent des six racines (cinq sens + le mental). Ce terme est souvent associé à la sagesse qui peut être "infectée" par des pensées douloureuses nées des passions et à laquelle on oppose la sagesse pure, sans écoulement (anasrava) premier degré des dix étapes de sécurité auquel le bodhisattva parvient par la samadhi de la Fleur du Dharma (hokke sanmai). L'école Tian-Tai considère comme asrava l'ignorance (obscurité fondamentale) les désirs des sens (recherche de gratification), la soif d'existence (exacerbation du moi) et l'attachement à ses propres conceptions.

  Tên khác của phiền năo. Nghĩa đen của chữ 'lậu' có nghĩa ṛ rỉ, tiết ra ngoài. V́ chúng sinh sống trong phiền năo, cho nên từ 6 căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... thường tiết ra những tội lỗi, khiến phải sống chết trôi lăn trong 3 cơi, do đó mà phiền năo được gọi là Lậu.

karma        Nghiệp    action    業    Karman
Energies potentielles dans le domaine intérieur de la vie qui se manifestent sous forme de résultats divers au cours des années à venir. Le mot sanskrit karma signifie à l'origine action, et le bouddhisme lui donne le sens d'actions mentales, verbales et physiques, c'est-à-dire les pensées, les paroles et les actes. Chaque action, bonne ou mauvaise, est une cause qui influence la vie d'un être. Cette influence est latente et se manifeste à l'occasion d'un stimulus externe. Se produit alors un effet correspondant. Selon ce concept, les actions passées donnent forme à la réalité présente, et les actions présentes déterminent le futur. C'est le karma formé dans les existences passées qui crée les différences avec lesquelles nous naissons dans ce monde. Selon le bouddhisme Mahayana, le karma latent est emmagasiné dans la conscience-alaya qui constitue une existence individuelle et qui passe par les cycles de la naissance et de la mort. L'idée de karma est antérieure au bouddhisme, mais le bouddhisme développa considérablement cette notion. Chaque personne est l'accumulation de ses actes. Mais contrairement à l'acception courante, le bouddhisme voit dans le karma non pas une destinée préétablie mais la production continue de ces actes qui se conditionnent les uns les autres. Selon le Kusha Ron de Vasubandhu, le karma résulte de quatre causes : 1) les désirs terrestres issus de l'obscurité fondamentale de la vie ; 2) un esprit de recherche pur envers le bouddhisme ; 3) les actions quotidiennes ; 4) ou profanes telles que tuer ses parents, etc.

  Nghiệp là hành động có dụng tâm (có tác ư). Ư chí trong nội tâm muốn làm một việc ǵ đó gọi là Ư nghiệp; c̣n dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ư chí th́ gọi là Thân nghiệp, Ngữ (Khẩu) nghiệp.

Karma négatif        Ác nghiệp        惡業    Akusala
Actes, paroles et pensées malsains, néfatifs.

  Những hành động, lời nói và suy nghĩ xấu.
Chỉ chung những điều xấu do thân, khẩu và ư tạo ra, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ư nghiệp, sau này ta sẽ chịu hậu quả xấu.

Karma positif        Thiện nghiệp        善業    Kusala
Actes, paroles et pensées bénéfiques, positifs.

  Những hành động, lời nói và suy nghĩ tốt lành.


La Coproduction conditionnée         Thập nhị nhân duyên        十二因緣    dvadaśāṅga-pratītya-samutpāda
La Coproduction conditionnée (pratîtyasamutpada en sanskrit, prononcer « prətī:tyə səmŭtpα:də », paticcasamuppāda en pāḷi) est le concept bouddhique de conditionnalité, de dépendance, de réciprocité.

Coproduction conditionnée est disponible sur Wikisource.D'après Christian Maès, une traduction plus correcte en français, devrait être : « coproduction conditionnelle », mais le terme « coproduction conditionnée » reste majoritairement utilisé. Ce terme signifie littéralement « l'origine d'une action ».

L'essentiel du concept réside dans la notion d'interdépendance. Ainsi, dans le bouddhisme, tous les phénomènes sont composés et inter-dépendants, que ce soient les objets physiques, les sensations, les perceptions, la pensée, la conscience. D'après le Bouddha, ces cinq « aliments » conditionnent le maintien de « l'existence des êtres vivants ». La coproduction conditionnée est valable pour toute chose, mais est souvent présentée pour expliquer l'origine de dukkha.

La coproduction conditionnée est un concept très étendu dans la littérature bouddhique, que ce soit au sein du Canon bouddhique ou dans les écritures et commentaires des différentes écoles, comme par exemple dans le Lalitavistara, texte du bouddhisme mahâyâna décrivant la vie du Bouddha et, notamment, sa découverte de la vérité de la conditionnalité au moment de son atteinte de l'éveil.

Il s'agit d'un concept théorique lié à une pratique, notamment celle de la méditation, se fixant pour but l'atteinte du nirvāna par l'observation des phénomènes tels qu'ils sont.
1. L'aveuglement, l'ignorance (s. avidyā, p. avijjā) ;
2. Les créations (formations, constructions) mentales (s. samskāra, p. sankhāra) ;
3. La conscience discriminante (s. vijñāna, p. vinnāna) ;
4. Le nom et la forme, les phénomènes physiques et mentaux (s., p. nāma-rūpa);
5. Les six « sphères » sensorielles (s. sadāyatana, p. salāyatana) ;
6. Le contact (s. sparśa, p. phassa) ;
7. La sensation (s., p. vedanā) ;
8. La soif (s. tṛṣna, p. tanhā);
9. L'attachement, l'appropriation (s., p. upādāna).
10. L'existence, le devenir (s., p. bhava).
11. La naissance (s., p. jāti).
12. La vieillesse et la mort : (s., p. jarā-maraṇa).

  Phạm dvadaśāṅga-pratītya-samutpāda. C̣n gọi là Thập nhị hữu chi, Thập nhị nhân duyên. Chỉ cho 12 chi phần nương vào nhau mà sinh khởi: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, già chết.
1. Vô minh, Phạm avidyā, avijjā: Không có trí tuệ. Theo Phật giáo, không thấy, không biết, không hiểu bốn sự thật và duyên khởi là vô minh. Ngược lại vô minh là chánh kiến.
2. Hành, Phạm saṃskara, saṅkharā: Gồm thân hành, ngữ hành, ư hành, cũng gọi là ba nghiệp. Do vô minh, không hiểu biết nên thân, ngữ, ư gây tạo những điều sai lầm tội lỗi, tạo thành ba nghiệp. Hành ở đây không đơn giản chỉ là hành vi sai lầm mà c̣n bao hàm cả những hành vi tập quán c̣n lại từ nhiều kiếp trước. Bất cứ hành vi, kinh nghiệm nào mà chúng ta đă tạo tác chúng đều không bao giờ tiêu mất, mà nhất định được lưu lại và được bảo tồn dưới dạng chủng tử, khi chúng biểu hiện th́ nó là những tố chất h́nh thành nên tri năng, tính cách của ḿnh.
3. Thức, Phạm vijñana, viññna: Đây là thức lúc nhập thai (kết sinh thức). Thức này cũng được nói đến trong năm uẩn, trong mười tám giới, là thức thứ sáu, là tác dụng của nhận thức hoặc nhận thức chủ quan, yếu tố h́nh thành chủng tử đưa tới tái sinh.
4. Danh sắc, Phạm nāma-rūpa: Danh và sắc. Danh là tinh thần, gồm thọ, tưởng, hành, thức; sắc là vật chất, gồm đất, nước, gió, lửa. Duyên thức có danh sắc, tức là nhờ thức nhập thai mà một chúng sinh h́nh thành với đầy đủ năm uẩn.
5. Lục xứ, Phạm ṣaḍ-āyatana, c̣n gọi là lục nhập, lục nhập xứ: Sáu căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Sáu căn là nơi tiếp thu đối tượng nên gọi là xứ.
6. Xúc, Phạm sparśa, phassa: Sáu căn tiếp xúc sáu trần h́nh thành sáu thức. Tức do căn, cảnh, thức hoà hợp mà có cảm giác, tri giác, và do tri giác mà h́nh thành nhận thức, quan điểm.
7. Thọ, Phạm cvedana: Tương đồng với yếu tố ‘thọ uẩn’ trong năm uẩn. Nó chỉ cho cảm thọ hạnh phúc, khổ đau, hay không vui không buồn khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Chẳng hạn, khi mắt tiếp xúc với h́nh sắc sẽ phát sinh ra cảm thọ, gọi là cảm thọ của mắt, cảm thọ này sẽ có ba trường hợp hoặc ưa thích, hoặc chán ghét, hoặc sẽ trung tính, không ưa không ghét. Đây là kết quả của nhận thức (trong chi phần Xúc ở trên), nhưng đối với cùng một sự vật lại có những nhận thức khác nhau rất lớn. Chẳng hạn, cùng một sự vật, khi tham muốn th́ cảm thấy ưa thích, nhưng khi nổi giận th́ cảm thấy đáng ghét. Thức này là nhận thức chủ quan, nhưng nó không giống như một tờ giấy trắng, mà nó kết hợp với những yếu tố vô minh và nghiệp (hành) của quá khứ để rồi phát sinh ra những tính cách tham dục, sân hận…
8. Ái, Phạm tṛṣṇā, taṇha: Cũng dịch là Khát ái. Ư muốn diễn tả giống như t́nh trạng một người khát nước đi t́m nước uống cho đỡ cơn khát. Gồm có sáu ái là ái sắc, ái thanh, ái hương, ái vị, ái xúc và ái pháp; hoặc là dục ái, hữu ái và vô hữu ái. Duyên với nhận thức mà phát sinh ra một thứ cảm thọ là ưa thích, không ưa thích, hoặc trung tính. Đối với cảm thọ không thích, cảm thấy khổ đau th́ chán ghét và ước muốn t́m cách tránh đi; c̣n đối với cảm thọ ưa thích th́ yêu mến và hy vọng t́m cầu cho được. Trạng thái tâm hy vọng t́m cầu hết sức mạnh mẽ đó được gọi khát ái. Cũng chính v́ ‘khát ái’ biểu thị đối với cảm thọ khổ, lạc mà sinh ra ư niệm thương, ghét.
9. Thủ, Phạm upādāna: Nắm giữ, ôm giữ lấy. Gồm có Dục thủ (tham muốn, t́m cầu và ôm giữ sắc, thanh, hương, vị, xúc (ngũ dục); Kiến thủ (chấp giữ những quan điểm, kiến thức, hiểu biết thế gian, không phải Phật giáo, không đưa đến giác ngộ, giải thoát); Giới cấm thủ (chấp giữ những giới luật không phải của Phật giáo, không đưa đến giải thoát và gây khổ đau cho ḿnh, cho người, cho muôn loài); Ngă ngữ thủ (chấp giữ những lư thuyết hay quan điểm về bản ngă linh hồn, cho rằng mỗi người có một linh hồn đang sống). Ái là trạng thái khao khát ở trong tâm, làm phát sinh ra ư niệm thương ghét; c̣n Thủ là hành động thực tế tương ứng với ư niệm thương ghét đó, hoặc sẽ chiếm đoạt, hoặc sẽ ghét bỏ đối tượng mà ḿnh yêu thích hay không yêu thích. Những hành vi của thân và khẩu như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời hung ác, nói lời gây mâu thuẫn, nói những lời dụ dỗ… đều được thúc đẩy bởi ‘Thủ’. Có thể nói ‘Thủ’ chính là yếu tố tạo nghiệp.
10. Hữu, Phạm bhava: Có nghĩa là tồn tại. Có ba cơi giới chúng sinh tồn tại trong đó là Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu. Hữu là thế giới trong đó có sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng, cùng nghĩa với chữ ‘hành’ (trong chư hành), hay ‘hữu vi’. Mười hai nhân duyên đều gọi là ‘hữu’, bởi v́ Mười hai nhân duyên c̣n vận hành là c̣n sự hiện hữu của chúng sinh hữu t́nh và vô t́nh trong ba cơi, cho nên Mười hai nhân duyên c̣n có tên là Thập nhị hữu chi. Ở đây, về phương diện ư thức, có thể phân làm Nghiệp hữu và Báo hữu. Nghiệp hữu là chỉ cho những hành vi tạo nghiệp thiện, ác; Báo hữu là kết quả, là quả báo của nghiệp thiện, ác. Như vậy, ‘Hữu’ đồng nghĩa với ‘Hành’. Nghiệp hữu bao hàm ba nghiệp thân, ngữ, ư và nó lưu giữ một năng lực, và chính cái năng lực này nó sẽ trở thành những tố chất h́nh thành nên tri năng, tính cách… của một chúng sinh. Quá tŕnh lựa chọn hành vi thực tế của chi Thủ sẽ tích luỹ một thứ năng lượng bên trong chi Hữu. Cho nên, chi Hữu không những là chứa đựng tập quán quá khứ mà c̣n quy định, phát triển hành vi tương lai, hay nói cách khác là nó tích luỹ một thứ năng lực dẫn đến tái sinh; trong sự sống mới nó biểu hiện những tính cách… c̣n lưu lại thuở quá khứ.
Hai chi Thủ và Hữu có thể nói là tương đương với chi Hành. Chi Ái th́ tương đương với chi Vô minh.
11. Sinh, Phạm jāti: Sự sống của chúng sinh hữu t́nh trong giống loại của chúng. Ở ư nghĩa này, sự sống của chúng sinh hữu t́nh chính là biểu hiện của toàn bộ kinh nghiệm c̣n lại của quá khứ, bao gồm tri năng, tính cách, thể chất… Cho nên, mỗi cá nhân đều có một tố chất nhất định. Một ư nghĩa khác của Sinh là chỉ cho kinh nghiệm sản sinh ra trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của mỗi chúng sinh hữu t́nh. Ở ư nghĩa này, Sinh là tố chất (Hữu) của mỗi cá nhân được tích luỹ làm cơ sở cho kinh nghiệm cuộc sống mới. Một cách tổng quát, cả hai ư nghĩa trên đều nói đến một sự sống mới, trong tương lai gần là hiện tại và tương lai xa là tái sinh.
12. Già chết, Phạm jārā-maraṇa: Già là tóc bạc, đầu hói, da nhăn, các căn suy sụp, tay chân yếu ớt, lưng c̣m, đầu cúi, rên rỉ, hơi thở ngắn, mệt nhọc, chống gậy đi, thân thể đen sạm, tay chân nổ ban đốm, lú lẫn, làm việc ǵ cũng khó khăn, kém cỏi. Chết là mỗi mỗi chúng sinh kia nơi mỗi mỗi chủng loại thân kia chết đi, tuổi thọ chấm dứt, thân hoại, đổi dời, hơi ấm ĺa thân, mệnh sống kết thúc, là đă đến lúc từ bỏ cái ấm thân. Trong kinh Duyên khởi, sau già chết c̣n có thêm sầu (soka), bi (parideva), khổ (dukkha), (domanassa), năo (upāyāsa), tức là trong diễn tŕnh của sự sống, từ khi sinh cho đến già chết, chúng sinh gánh chịu bao khổ đau, phiền năo.
Tóm lại, Vô minh, Hành và Ái, Thủ, Hữu là những tư tưởng và hành vi sai lầm, nhất định sẽ đưa đến quả báo khổ năo.
Trong kinh điển Nguyên thuỷ, có rất nhiều bộ kinh ghi lại một cách đầy đủ và chi tiết những lời dạy của Đức Phật về giá trị của 12 duyên khởi. Và Đức Phật khi nào cũng nói đến các mối quan hệ duyên khởi theo hai cách: Lưu chuyển và Hoàn diệt. Tuỳ theo bối cảnh thuyết pháp, Đức Phật có thể nói duyên khởi theo mối quan hệ hai chi, ba chi, bốn chi, năm chi, cho đến chín chi, mười chi, mười hai chi, thậm chí c̣n nhiều hơn. Chẳng hạn, trong giáo lư Tứ diệu đế cũng có giáo lư duyên khởi, và duyên khởi được tŕnh bày trong đó chỉ có hai chi: Khát ái (tập đế) là nguyên nhân dẫn đến sự lưu chuyển trong khổ đau (khổ đế); ngược lại, bát chánh đạo (chánh kiến, hay minh, đạo đế) là con đường đi đến ái diệt (niết bàn, diệt đế). Có rất nhiều kinh, cũng như trong kinh nói về Tứ diệu đế, Đức Phật không hề dùng đến từ ‘duyên khởi’, nhưng lại giảng rất rơ ràng về mối quan hệ duyên khởi.

Le don        Bố thí    donation    布施     Dāna
Le don (fuse, 布, dana). Celui-ci peut être matériel et impliquer le renoncement à une partie de ses biens et de son confort. Mais il peut aussi concerner son corps ou même une partie de son corps comme l'attestent les nombreux exemples des sutras : don de sa peau, de sa chevelure, etc. Au plus haut degré le don s'applique à toute la vie : il s'agit non seulement des martyrs mais de tous ceux qui consacrent leur vie au Bouddha ; donner de son temps relève de cette catégorie.
On peut noter que le don envers les ascètes ou les mendiants est une pratique ancienne de l’Inde. Le Bouddha lui-même était un religieux qui quêtait sa nourriture et les premiers bouddhistes ont été des moines-bhiksu qui dépendaient pour leur subsistance des dons des laïcs. La tradition de ne pas remercier les donateurs perdure encore de nos jours car c'est pour ceux-ci une façon de s'approcher de l'Eveil. On considère que celui qui donne est le premier bénéficiaire de ce don.

  Thực hành hạnh Từ Bi, đem phúc lợi ban cho những người nghèo khổ, thiếu thốn những vật dụng như cơm ăn, áo mặc...
Phật giáo Đại thừa cho rằng Bố thí là một trong sáu pháp đưa đến giác ngộ (lục ba la mật) và ư nghĩa Bố thí được nâng cao hơn nhiều. Đó là, ngoài việc ban phát của cải, thức ăn uống (Tài thí), c̣n hai thứ bố thí nữa là Pháp thí (nói pháp cho người nghe) và Vô uư thí (cho người ta sự không sợ hăi).
Tóm lại, Bố thí là một phương pháp tu hành đem tài vật, thể lực, trí tuệ... cho người khác, v́ người mà tích luỹ công đức, tạo phúc thành trí, để cuối cùng được giải thoát.

les détresses impliquent l'éveil        Phiền năo tức bồ đề        煩惱即菩提    
désirs [les] impliquent l’éveil ou les détresses impliquent l'éveil. (bonno soku bodai, 煩悩即菩提, 煩惱即菩提, fengnao ji puti). Principe fondamental de certains courants du bouddhisme du Mahayana et notamment des écoles qui se rattachent au Lotus. Selon ce principe, l'homme peut atteindre l'état de bouddha en transformant les illusions et les désirs terrestres en sagesse plutôt qu'en les supprimant. Selon la doctrine theravada, puisque ces désirs contribuent généralement à obscurcir la nature de bouddha et à faire obstacle à la pratique bouddhique, il faut les éliminer pour atteindre l'état de bouddha. Alors que selon le Sutra du Lotus, les désirs terrestres et l'Eveil ne sont pas différents dans leur essence. Il s'ensuit que l'Eveil n'est pas la suppression du désir, mais un état dont on peut faire l'expérience en transformant les désirs inhérents à la nature humaine. Le Sutra Fugen, (qui sert de conclusion au Sutra du Lotus) explique que "même sans éliminer leurs désirs terrestres ou nier les cinq désirs, les hommes peuvent purifier tous leurs sens et supprimer toutes leurs mauvaises actions." Le chapitre Juryo* (XVI) du Sutra du Lotus révèle que l'état de bouddha contient les neuf autres états (bukkai soku kukai). Même après avoir atteint l'Eveil, le Bouddha conserve encore les neuf états propres au commun des mortels. En se fondant sur l'état de bouddha, les hommes créent la joie plutôt que la souffrance sans transformer leur nature essentielle.
"Les désirs s'identifient à l'Eveil " indique donc une caractéristique du processus de l'Eveil, c'est à dire l'instant où l'immense énergie contenue dans les désirs devient boddhéité. Le Sutra Vimalakirti, cité par Nichiren notamment, dit : "l'Eveil du Bouddha se trouve dans la vie humaine, montrant que de simples mortels peuvent devenir bouddha et que les souffrances de la naissance et de la mort peuvent se changer en nirvana". Le terme "s'identifier" (soku, ji) indique non seulement la non-dualité des passions et de l'Eveil mais leur identité atemporelle. Dans la réalité quotidienne il ne s’agit pas toutefois de confondre désir et Eveil, pas plus qu’il ne convient de confondre vie et mort.

  Phiền năo và Bồ đề không phải là hai mà cái này tức cái kia.
Thông thường, phiền năo là chỉ cho tất cả tác dụng tinh thần làm trở ngại sự giác ngộ; c̣n Bồ đề là trí tuệ dứt hết phiền năo thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tuy nhiên, phiền năo và bồ để không phải là hai cái có tự thể riêng biệt, mà cùng nằm trong một thực thể duy nhất đó là tâm của chúng sinh. Tâm chúng sinh khi sống trong vô minh, thất niệm th́ là phiền năo; mà khi sống trong tỉnh giác, chánh niệm th́ là bồ đề. Phiền năo không phải nằm ngoài bồ đề, mà bồ đề cũng không nằm ngoài phiền năo, nó là một, nên nói phiền năo tức bồ đề.

Les dix tableaux d'élevage de buffles        Thập mục ngưu đồ    Ten Ox Herding Pictures    十牧牛圖    
Les dix tableaux de buffles représentent de différentes étapes d'un bouddhiste pour parvenir à l'état de l'éveil.

Il existe plusieurs catégories de tableaux, mais nous pouvons les classer en 2 principales catégories : celle présenté par la bouddhisme Mahāyāna et celle du Zen.

1 - Non discipliné
2 - Discipliné
3 - Attaché
4 - Tourné
5 - Apprivoisé
6 - Sans crainte
7 - Laisser-faire
8 - Tout oublié
9 - Tout seul
10 - Tout disparu

  Là mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng tương ứng với quá tŕnh hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Mỗi bức tranh có một bài tụng bằng thơ tứ tuyệt, và một bài chú giải bằng văn xuôi.
Tuy có nhiều bộ tranh khác nhau nhưng có thể xếp thành hai loại : bộ tranh Đại Thừa và bộ tranh theo khuynh hướng Thiền Tông.

1 - Chưa chăn
2 - Mới chăn
3 - Chịu phép
4 - Quày đầu
5 - Vâng chịu
6 - Không ngại
7 - Tha hồ
8 - Cùng quên
9 - Soi riêng
10 - Dứt cả hai

Les longs sutras         Trường A hàm kinh    Longer Āgama-sutra    長阿含經    Dīrghāgama
  Kinh Trường A-hàm, tiếng Phạn là Dīrghāgama, gồm 22 quyển, do Phật-đà-da-xá (Buddhayaśas, Tăng nhân nước Kế Tân, bắc Ấn Độ) và Trúc Phật Niệm (người Lương Châu, Cam Túc, Vũ Uy) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thỷ thứ 15 (413 Tây lịch), hiện nằm trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), tập 1, số 1, trang 1-149. Theo Luật Tứ Phần quyển 54, Luật Ngũ Phần quyển 30, Luận Du Già Sư Địa quyển 85 v.v… th́ kinh này tập hợp những bài pháp thoại dài của Đức Thế Tôn mà thành. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa (Sarvāstivāda vinaya vibhāṣā) quyển 1, cho rằng kinh này chuyên đả phá các ngoại đạo nên gọi là Trường A-hàm. Luận Phân Biệt Công Đức quyển 1, th́ giải thích, trường là tŕnh bày những sự việc xa xưa, trải qua nhiều kiếp. Đọc lại Trường A-hàm th́ biết rằng đây đúng là những bài pháp thoại rất dài, tŕnh bày nhiều vấn đề, nhiều ư nghĩa sâu xa, chứa đựng nhiều giáo lư căn bản…
Về sự truyền thừa của Trường A-hàm, theo Pháp Hoa Kinh Huyền Tán quyển 1, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Tán quyển 8… th́ bốn bộ A-hàm đều do Đại chúng bộ truyền. Nhưng Câu Xá Luận Kê Cổ quyển thượng, th́ cho rằng Trường A-hàm do Hoá Địa Bộ truyền. Theo các công tŕnh nghiên cứu của các học giả Nhật Bản thời hiện đại, th́ Trường A-hàm do Pháp Tạng Bộ (Dharmagupta) truyền. Thuyết này được nhiều công tŕnh nghiên cứu của các học giả trên thế giới đồng thuận.
Trong ĐTK/ĐCTT, từ số 2 đến 25 (gồm 57 quyển) là những bản Hán dịch lẻ tẻ (đơn bản) các kinh thuộc Truờng A-hàm. Đây là những bản kinh thuộc nhiều bộ phái khác nhau, do đó nội dung chứa đựng ít nhiều dị biệt. Trường A-hàm mà chúng tôi sẽ giới thiệu là bản Hán dịch Trường A-hàm kinh 22 quyển, do Phật-đà-da-xá tuyên đọc thuộc ḷng bản Phạn, và Trúc Phật Niệm truyền dịch sang Hán văn, Việt dịch do Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, năm 1991, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a1, trọn bộ 2 tập. Bạn đọc có thể tham khảo thêm từ trang nhà phatviet.com bản Việt dịch của TT. Tuệ Sĩ.
22 quyển Trường A-hàm có 30 kinh, chia thành bốn phần. Phần một có 4 kinh, nói về sự tích của chư Phật và các vấn đề liên quan. Phần hai có 15 kinh, tŕnh bày các phương pháp, nguyên tắc tu tập và cương yếu giáo lư Phật thuyết. Phần ba có 10 kinh nói về các vấn nạn của ngoại đạo và những dị thuyết. Phần bốn có 01 kinh, chia thành 12 phẩm, nói về tướng trạng khởi nguyên của vũ trụ.
Kinh Trường A-hàm tương đương với kinh Trường bộ (Dīgha-nikāya) thuộc hệ thống kinh tạng Nam truyền. Kinh Trường bộ có 3 phẩm, tổng cộng 34 kinh, trong đó có 29 kinh tương đương với Trường A-hàm.

Les sutras des doctrines numériques         Tăng nhất A hàm kinh    Increased by One Āgama Sutras    增一阿含經    Ekottarikāgama
  Kinh Tăng nhất A-hàm, tiếng Phạn là Ekottarikāgama, gồm 51 quyển, do Cù-đàm Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva) dịch vào đời Đông Tấn (có lẽ trong khoảng thời gian 391-397 Tây lịch), hiện nằm trong ĐTK/ĐCTT, tập 2, số 125, trang 549-830. Các kinh từ số 126 đến 151 là các bản dịch lẻ tẻ thuộc Tăng nhất A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a4, HT. Thích Thanh Từ dịch, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, trọn bộ 3 tập.
Về tên gọi của bổn kinh, theo Thiện Kiến Luật Tỳ-bà-sa quyển 1, Ngũ Phần Luật quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54… th́ do kinh này tập hợp các bài pháp thoại có nói đến pháp số, tuần tự sắp xếp từ 1 pháp đến 11 pháp, theo thứ tự tăng dần như vậy nên gọi là Tăng nhất. Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa, quyển 1, c̣n cho rằng kinh này Đức Phật v́ chư thiên, người đời… tuỳ thời mà thuyết pháp. Thuyết này không được chính xác lắm!
Toàn kinh được phân thành 52 phẩm, tổng cộng 472 kinh. Mở đầu là phẩm Tự, tŕnh bày sơ lược diễn biến đại hội kết tập, A-nan tụng kinh, và nhân duyên A-nan truyền pháp cho Ưu-đa-la. Tiếp là các phẩm sắp xếp kinh thứ tự theo số pháp, từ 1 đến 11 pháp. 1 pháp có 13 phẩm, 2 pháp có 6 phẩm, 3 pháp có 4 phẩm, 4 pháp có 7 phẩm, 5 pháp có 5 phẩm, 6 pháp có 2 phẩm, 7 pháp có 3 phẩm, 8 pháp có 2 phẩm, 9 pháp có 2 phẩm, 10 pháp có 3 phẩm, 11 pháp có 4 phẩm. Trong đó, cứ sau mỗi kinh hay sau mỗi phẩm đều có bài tụng tóm tắt đại ư của mỗi kinh hay mỗi phẩm. Các bản Tăng nhất A-hàm của Tống, Nguyên, Minh đều ghi nhận có 52 phẩm, 50 quyển. C̣n trong Đại tạng của Cao Ly th́ kinh này có 50 phẩm, 51 quyển.
Về pháp số của kinh này, có hai thuyết. Thuyết thứ nhất cho rằng kinh này vốn có đến 100 pháp, sau v́ quên mất nên chỉ c̣n lại 10 pháp (theo Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 32, A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận quyển 10, Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự quyển 39...). Thuyết thứ hai căn cứ vào Ngũ Phần Luật quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54, Tuyển Tập Tam Tạng và Tạp Tạng Truyện, Phân Biệt Công Dức Luận quyển 2,... cho rằng kinh này thứ tự sắp xếp từ một đến 11 pháp, tổng cộng có 11 pháp. Thuyết này phù hợp với kinh Tăng nhất A-hàm hiện c̣n.
Trong năm bộ Nikāya, th́ kinh này tương đương với Tăng chi bộ (Aṅguttara- nikāya). Tăng chi bộ có 11 tụ, 171 phẩm, 2203 kinh, (nhưng con số này cũng chưa thống nhất), trong đó có 136 kinh tương đương hoặc có thể đối chiếu so với Tăng nhất A-hàm (theo The four Buddhist Àgamas in Chinese). Nhưng trong Phật quang đại tạng kinh, phần đề giải kinh Tăng nhất A-hàm cho biết có 153 kinh của Tăng nhất A-hàm tương đương hoặc gần tương đương với Tăng chi bộ.
Về sự truyền thừa, theo Luận phân biệt công đức, kinh này được truyền từ Nhất thiết hữu bộ. Dịch giả của kinh này xuất thân trong địa bàn truyền giáo của Nhất thiết hữu bộ, cho nên thuyết này cũng rất có lư. Nhưng kinh này lại mang đậm sắc thái Đại thừa, nên ngài Từ Ân cho rằng kinh này được truyền từ Đại chúng bộ. Theo học giả Lương Khải Siêu, kinh này do Nhất thiết hữu bộ truyền, sau đó được bổ sung bởi các bản của Đại chúng bộ.


Les sutras moyens         Trung A hàm kinh    Middle Length Āgama Sutras    中阿含經    Madhyamāgama
  Kinh Trung A-hàm, tiếng Phạn là Madhyamāgama, có 60 quyển, 222 kinh, do Tăng-già-đề-bà (Saṃghadeva, người nước Kế Tân, Bắc Ấn) và Tăng-già-la-xoa (Saṃgharakṣa, người nước Tu Lại, Tây Bắc Ấn) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Đông Tấn, niên hiệu Long An thứ 2 (398 Tây lịch), hiện nằm trong ĐTK/ĐCTT, tập 1, số 26, trang 421-809. Các kinh từ số 27 đến 98 là các bản dịch lẻ tẻ (đơn bản) của các kinh thuộc Trung A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a2, Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, trọn bộ 4 tập. Chúng tôi dựa vào bản dịch của TT. Tuệ Sĩ để giới thiệu (Xem trên web phatviet.com).
Luận Phân Biệt Công Đức quyển 1, giải thích chữ trung có nghĩa là không lớn không nhỏ, không dài không ngắn, Trung A-hàm là tuyển tập những kinh không dài không ngắn. Đọc Trung A-hàm chúng ta thấy quả thật những kinh trong đây không dài như Trường A-hàm nhưng không ngắn chút nào!
Về sự truyền thừa và đối chiếu với kinh Trung bộ thuộc Nam tạng, xin xem luận án tiến sĩ của HT. Thích Minh Châu trong cuốn So sánh kinh Trung A-hàm chữ Hán và kinh Trung bộ chữ Pāli do Ni sư Trí Hải dịch. Ở đây, chúng tôi ghi nhận Trung A-hàm được truyền dịch từ Nhất thiết hữu bộ, bởi Tăng-già-la-xoa và Tăng-già-đề-bà đều là Đại luận sư của Hữu Bộ, mọi người đều biết. Đề-bà dịch Luận A-tỳ-đàm Bát Kiền-độ (Luận Phát Trí của Ca-chiên-diên) là sách trọng yếu nhất của Hữu Bộ, La-xoa dịch tiếp Luật Thập Tụng của ngài La-thập cũng là luật Hữu Bộ.
60 quyển Trung A-hàm chia thành 5 tụng, 18 phẩm. 5 tụng là Sơ tụng, Tiểu độ thành tụng, Niệm tụng, Phân biệt tụng và Hậu tụng. 18 phẩm gồm: 1, Phẩm bảy pháp, gồm 10 kinh; 2, Phẩm Nghiệp Tương Ưng, gồm 10 kinh; 3, Phẩm Xá-lê Tử Tương Ưng, 11 kinh; 4, Phẩm Vị Tằng Hữu Pháp, 10 kinh; 5 Phẩm Tập Tương Ưng, 16 kinh; 6, Phẩm Vương Tương Ưng, 14 kinh; 7, Phẩm Trường Thọ Vương, 15 kinh; 8, Phẩm Uế, 10 kinh; 9, Phẩm Nhân, 10 kinh; 10, Phẩm Lâm, 10 kinh; 11, Phẩm Đại, 25 kinh; 12, Phẩm Phạm Chí, 20 kinh; 13, Phẩm Căn Bản Phân Biệt, 10 kinh; 14, Phẩm Tâm, 10 kinh; 15, Phẩm Song, 10 kinh; 16, Phẩm Đại (Hậu tụng),10 kinh; 17; Phẩm Bổ-lợi-đa, 10 kinh; 18, Phẩm Lệ, 11 kinh.
Kinh này ghi lại nhiều bài pháp thoại của Đức Phật và các đệ tử của Ngài, thỉnh thỏang cũng có những lời giáo giới của Đức Phật cho các đệ tử, các bậc vương giả, cư sĩ và ngoại đạo.

Les sutras sur des sujets liés         Tạp A hàm kinh    Saṃyuktāgama    雜阿含經    Saṃyuktāgama
  Tạp A-hàm, tiếng Phạn là Saṃyuktāgama, gồm 50 quyển, do Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra, người Trung Ấn độ, 394~468 Tây lịch) dịch sang tiếng Hán vào đời Lưu Tống (435 Tây lịch), hiện được xếp vào ĐTK/ĐCTT, tập 2, kinh số 99, trang 1-303. Từ số 100-124 là các bản biệt dịch Tạp A-hàm. Bản tiếng Việt, Đại tạng kinh Việt Nam, kư hiệu A a3, HT. Thích Thiện Siêu, HT. Thích Thanh Từ dịch, nhà xuất bản Tôn giáo, trọn bộ 4 tập.
Theo Ngũ Phần Luật, quyển 30, Tứ Phần Luật quyển 54... cho rằng kinh này do Đức Phật nói cho nhiều đối tượng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên tử, Thiên nữ về các pháp Tứ thánh đế, Bát chính đạo, Thập nhị nhân duyên... biên tập thành một bộ, nên gọi là Tạp A-hàm. Ma Ha Tăng Kỳ Luật quyển 32, nói rằng kinh này văn cú phức tạp, cho nên gọi là Tạp A-hàm. Ngoài ra, Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa quyển 1, nói kinh Tạp A-hàm xiển dương các loại thiền định, là pháp môn mà người tọa thiền phải học tập. Du Già Sư Dịa Luận quyển 85, th́ nói do tất cả mọi sự đều tương ưng với giáo, tập hợp tất cả nghĩa lư đó lại thành một bộ, gọi là Tạp A-hàm.
Căn cứ vào Đại chính tạng, kinh này có 50 quyển, 1362 kinh, nội dung tương đương với Tương ưng bộ (Saṃyutta-nikāya, gồm 5 tụ, 56 thiên, 203 phẩm, 2858 kinh) bản Pāli của Nam truyền Phật giáo. Đây là bộ kinh lớn nhất và cũng được h́nh thành sớm nhất trong bốn bộ A-hàm. Nếu phân loại theo tính chất, toàn kinh có thể chia thành ba bộ phận lớn.
1. Tu-đa-la (sūtra), nội dung gồm các kinh tŕnh bày về Uẩn, Xứ, Duyên khởi, Thực, Đế, Giới, Niệm, Trụ...
2. Kỳ-dạ (geya), là những kinh có lời vấn đáp được tŕnh bày bằng thể loại kệ tụng.
3. Kư thuyết (vyākaraṇa), những lời của Đức Phật và các đệ tử của Ngài thuyết.
Ba bộ phận trên đây tương đương với Sở thuyết, Sở vi thuyết, Năng thuyết được nói đến trong Du Già Sư Dịa Luận quyển 85.
Kinh Tạp A-hàm c̣n bảo tồn phong cách của Phật giáo nguyên thủy, tuy vẫn có những phần do đời sau thêm vào, nhưng hầu hết đều được thành lập vào thời kỳ rất sớm. Văn phong của kinh này rất đơn giản, câu cú rơ ràng, chứa đựng nhiều pháp môn tu hành rất thực tiễn. Chẳng hạn như các phẩm nói về Niệm trụ, Uẩn, Giới... Từ những đoạn đối đáp giữa Đức Phật và các đệ tử hiển hiện ra Tứ song, Bát bội, y vào Bát chúng mà nói "Chúng tương ưng", khiến cho hàng tại gia, xuất gia, nam nữ, lăo ấu, các đại đệ tử đều có thể lănh thọ được sự lợi ích của giáo pháp.
Có rất nhiều học giả cận đại nghiên cứu về bốn bộ A-hàm. Đầu tiên là các học giả Phương tây, sau đó là các học giả Nhật bản tiến bộ thêm một bước trong phương pháp luận cứu. Thành quả đạt được tuy rất to lớn, nhưng chủ yếu là văn bản Pāli, v́ họ cho rằng đó mới là ngôn ngữ thánh điển nguyên thủy. Các bộ Hán dịch A-hàm pho quyển quá nhiều, thiên chương trùng phức, từ ngữ mâu thuẫn, văn dịch vụng về, nên không được phổ cập. Sau khi các nhà nghiên cứu Phật học Trung quốc thời cận đại nhận thức được giá trị của kinh điển A-hàm mới bắt đầu có xu hướng khảo cứu tư tưởng A-hàm. Chẳng hạn như Tạp A-hàm, bản hiện nay do nội dung chưa hoàn chỉnh, thứ tự lộn lạo, thất lạc, kinh văn khó hiểu, cho nên các học giả cận đại mới chỉnh lư lại kinh này. Trước mắt, có 2 bản mới là kinh Tạp A-hàm do Phật Quang Sơn xuất bản và Tạp A-hàm kinh luận hội biên của Ấn Thuận. Bản Tạp A-hàm của Phật Quang Sơn sử dụng h́nh thức chấm câu mới và phân đoạn rơ ràng, chú trọng đối chiếu với các bản Pāli, Hán dịch cùng với các bản dị dịch khác, phân định lại thứ tự số quyển, ở mỗi kinh nhỏ đều có giải thích ư kinh, những chỗ kinh văn khó hiểu th́ cẩn thận chua thêm văn Pāli để đối chiếu hoặc dịch ra Trung văn (Bạch thoại). Ngoài ra, điểm đặc sắc của bản này c̣n được nh́n thấy qua cách hiệu đính nghiêm túc, chú giải rơ ràng, dẫn chứng đầy đủ. Tạp A-hàm kinh luận hội biên của ngài Ấn Thuận th́ lấy kinh Tạp A-hàm đối chiếu với Luận Du Già Sư Địa, đồng thời dùng phương pháp cổ lệ của Ấn độ để phân loại nội dung, mà không dùng cách phân quyển như các bản kinh Hán dịch truyền thống. Ấn Thuận hội biên Tạp A-hàm thành 7 phần 51 mục tương ưng.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13