Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Recherche par mot

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Recherche par lettre
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Recherche par genre:
BouddhasSûtrasNoms-LieuxTermes

Bilingue
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13 

Terres quatre        Tứ độ    Four lands    四土    Buddha-kṣetra
Terre pure (jodo, 淨土). Terre qui n’est pas souillée par les passions (bonno) ou les cinq troubles (gojoku). Ce terme est utilisé en opposition à l'expression "terre impure" qui désigne le monde saha actuel, souillé par la souffrance et les désirs. Puisque la terre d'un bouddha est exempte des cinq impuretés, elle est appelée terre pure. Il existe deux points de vue concernant la relation entre le monde saha et la terre pure.
Le premier considère que la terre pure est un royaume totalement autre, physiquement séparé du monde saha comme, par exemple, la Terre d'émeraude du bouddha Yakushi à l'est et la Terre pure de la Béatitude parfaite du bouddha Amida à l'ouest (le terme Terre pure, écrit avec une majuscule, se réfère souvent à la terre d'Amida, Jodo). Le second point de vue, présenté dans le Sutra du Lotus ou dans le Sutra Vimalakirti, affirme qu'il ne peut y avoir de terre pure hors du monde saha. Cela dépend de l'état de vie d'une personne ; si elle purifie son cœur, le monde dans lequel elle vit devient une terre pure.

  Cũng gọi Tứ Phật độ, Tứ chủng Phật độ. Chỉ cho 4 cơi Phật.
1. Phàm thánh đồng cư độ, cũng gọi Nhiễm tịnh đồng cư độ, Nhiễm tịnh quốc: Cơi nước trong đó phàm phu người, trời cùng ở chung với các bậc thánh Thanh văn và Duyên giác.
2. Phương tiện hữu dư độ, cũng gọi Phương tiện độ, Hữu dư độ: Chỉ cho nơi cư trú của các bậc A la hán, Bích chi Phật và hàng Bồ tát Địa tiền. V́ các bậc này tu đạo phương tiện, đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, cho nên gọi là Phương tiện; nhưng Vô minh căn bản vẫn c̣n sót lại, ngăn che thực tướng Trung đạo, cho nên gọi là Hữu dư.
3. Thực báo vô chướng ngại độ, cũng gọi Thực báo độ, Quả báo độ: Nơi sinh về của các vị Bồ tát đă dứt bỏ được 1 phần vô minh. Nhờ tu hành đạo chân thực mà được quả báo sinh về cơi nước tự tại vô ngại này, nên gọi là Thực báo vô chướng ngại độ.
4. Thường tịch quang độ, cũng gọi Lư tính độ: Chỗ ở của Phật đă hoàn toàn dứt trừ vô minh căn bản, tức nơi cư trú của Phật đă chứng được quả Diệu giác rốt ráo, là cơi Phật thường trụ (pháp thân), tịch diệt (giải thoát) và quang minh (bát nhă).

titres honorifiques [dix] de Shakyamuni        Thập hiệu Như Lai    ten epithets of the Buddha    十號如來    Daśa balāni
titres honorifiques [dix] de Shakyamuni. (jugo, 十號). Appeler quelqu'un par son nom était considéré comme un manque de respect puisqu'on se plaçait sur un plan d'égalité. Les saints et les sages étaient généralement désignés par un titre. Les titres suivants sont maintes fois répétés dans les sutras.
- Bhagavat - Buddha-lokanatha ou Bhagaran - Bouddha - l'Eveillé, Celui qui sait, Le Bienheureux, le Vénéré du monde, Butsu Seson, 佛世尊 ; - Tathagata - Ainsi Venu, Ainsi Allé, Nyorai, 如來 ; - Arhat - Digne d'offrandes, Digne de respect, Ougu, 應供 ; - Samyak-sambuddha - Sage parfait, Juste et universel en son savoir, Shohenchi, 正遍知 ; - Vidya-carna-sampauna - Parfait dans la conduite, Pourvu de sciences et de pratiques, Myogyosoku 明行足 ; - Sugata - Parfaitement parti, Pourvu d'une bonne destinée, Zenzei, 善逝 ; - Lokavit - Parfait dans la compréhension des dharma, Connaisseur du monde, Sekenge, 世間解 ;
- Anuttara - Vainqueur insurpassable, Suprême, Mujoji, 無上士 ; - Purusa-damya-sarathi - Dompteur des héros, Jogojobu, 調御丈夫 ; - Sasta deramanusyanam - Maître des dieux et des hommes, Tenninshi, 天人師.

  10 danh hiệu của một đức Phật.

1. Như lai (Tathāgata): Đức Phật không từ đâu đến và cũng không đi về đâu, nên gọi là Như lai (vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như lai). Cũng có nghĩa: Đức Phật đến (lai) từ sự thật (Như).

Nguyên tiếng Phạn, chữ tathāgata, có thể phân tích như sau: tathā-gata (như khứ) và tathā-āgata (như lai). Do đó, nếu giải thích theo chữ đầu tiên, th́ con đường đi từ chân như mà tiến đến quả vị Phật, Niết-bàn, gọi là Như Khứ; nếu giải thích theo chữ sau, th́ do chân lư mà xuất hiện (như thật mà đến), mà thành chánh giác, gọi là Như Lai.

Phật có nghĩa là từ chân lư mà đến, do chân như mà hiện thân, cho nên tôn xưng Phật là Như Lai.
Trường A-hàm, quyển 20, kinh Thanh Tịnh, ghi: Phật từ đầu hôm thành Vô thượng chánh giác (ở Bồ-đề đạo tràng) cho đến đêm cuối cùng (ở Câu-thi-na), trong khoảng thời gian đó có nói điều ǵ, th́ tất cả những điều ấy đều như thật, cho nên gọi là Như Lai. Lại nữa, Như Lai nói sự việc như vậy, sự việc như vậy mà nói, nên gọi là Như Lai.

Luận Đại Trí Độ, quyển 55, ghi: Thực hành 6 pháp ba-la-mật, đắc thành Phật đạo, cho nên gọi là Như Lai; trí tuệ biết tất cả các pháp Như, từ trong Như mà đến, nên gọi là Như Lai.

2. Ứng cúng (Arhat, A la hán): Xứng đáng nhận sự cúng dường của người, trời.

3. Chính biến tri (Samyaksaṃbuddha, tam miệu tam phật đà): Có năng lực biết rơ đúng đắn khắp tất cả các pháp.

4. Minh hành túc (Vidyācaraṇa-saṃpanna): Có đủ ba loại trí tuệ (thiên nhăn minh, túc mệnh minh, lậu tận minh) và hành nghiệp của thân, khẩu, ư đều thanh tịnh.

5. Thiện thệ (Sugata): Dùng Nhất thiết trí làm cỗ xe lớn, đi trên 8 con đường chân chính (bát chính đạo) mà vào Niết bàn.

6. Thế gian giải (Loka-vid): Biết rơ 2 loại thế gian là Chúng sinh thế gian và Không phải chúng sinh thế gian, cho nên biết sự h́nh thành và hoại diệt của thế gian và con đường ra khỏi thế gian.

7. Vô thượng sĩ (Anuttara): Trong các pháp, Niết bàn là vô thượng, trong tất cả chúng sinh, Phật là vô thượng.

8. Điều ngự trượng phu (puruṣa-damya-sārathi): Phật là bậc Đại từ, Đại trí, có khi dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời bi thiết, tạp ngữ... dùng mọi phương tiện điều phục, chế ngự người tu hành khiến họ đến Niết bàn.

9. Thiên nhân sư (śāstā deva-manuṣyāṇāṃ): Chỉ dạy chúng sinh điều ǵ nên làm, điều ǵ không nên làm, việc này thiện, việc này là bất thiện... giúp họ giải thoát phiền năo.

10. Phật Thế tôn (Buddha-bhagavat): Tức người đă tự giác ngộ, giúp cho người khác giác ngộ, giác ngộ và sự thực hành đi đến giác ngộ đều được viên măn, thấy biết tất cả các pháp trong ba đời, cho nên được người đời tôn trọng, cung kính.

triple mystère ou trois secrets        Tam mật        三密    trīṇi guhyāni
triple mystère ou trois secrets (san-mitsu, 三密). Selon l'enseignement Shingon, puisque le bouddha Dainichi-Vairocana est omniprésent, tous les êtres sont le corps mystique du bouddha, tous les sons constituent sa bouche (c'est-à-dire sa voix) mystique et toutes les pensées représentent son esprit mystique. Toutefois, le corps, la bouche et l'esprit du Bouddha sont inimaginablement profonds et au-delà de la compréhension des simples mortels. Ils sont donc appelés "mystères". Mais le corps, la bouche et l'esprit des simples mortels ne sont pas essentiellement différents de ceux du Bouddha bien que leur nature de bouddha soit obscurcie par l'illusion. En ce sens, dans leur aspect essentiel, le corps, la bouche et l'esprit des simples mortels sont aussi appelés les trois mystères. Du point de vue de la pratique, l'enseignement ésotérique assigne au corps de fabriquer les mudra en utilisant les mains, à la bouche de réciter les mantra (paroles mystiques) et à l'esprit de méditer sur l'objet de vénération. On dit que par ces trois pratiques le corps, la bouche et l'esprit des simples mortels s'associent à ceux du Bouddha.



  Là ba nghiệp bí mật, tức Thân mật (kāya-guhya), Khẩu mật (vāg-guhya), và Ư mật (mano-guhya). Khẩu mật c̣n gọi là Ngữ mật và Ư mật cũng gọi là Tâm mật. Thuật ngữ này do Mật giáo Tây tạng sử dụng là chủ yếu.
1. Theo sự giải thích của Hiển giáo, không thể dùng sự suy tư của phàm phu mà lường biết được ba nghiệp của Phật, nên gọi là Tam mật.
Thân mật: Đức Như lai ở giữa đại hội, đại chúng thấy sắc thân của Phật cao, thấp khác nhau, cho đến đại thần biến đều không thể nghĩ bàn.
Ngữ mật: Khi đức Phật nói pháp, người ở cách xa hoặc một dặm, hoặc mười dặm hoặc trăm ngàn dặm đều nghe được âm thanh của Phật. Hơn nữa, trong cùng một hội, người nghe bố thí, người nghe tŕ giới... mỗi người tuỳ theo chỗ ḿnh nghe đều không thể nghĩ bàn.
Ư mật: Phật thường ở trong thiền định vắng lặng, những chỗ ngài tư duy, quán xét đều không thể nghĩ bàn.
2. Theo sự giải thích của Mật giáo th́ ba nghiệp của Phật thuộc về Dụng đại (tác dụng của Chân như) trong 3 đại Thể, Tướng, Dụng. Tác dụng ấy rất sâu xa nhỏ nhiệm, sự nghĩ lường của phàm phu không thể nào biết được, hàng Bồ tát Thập địa, Đẳng giác cũng không thể thấy nghe, cho nên gọi là Tam mật. Tam mật của Phật nếu ứng hợp với Tam mật của chúng sinh th́ thành tựu nghiệp dụng không thể nghĩ bàn. Tam nghiệp của chúng sinh chẳng những khế hợp với Tam mật của Phật mà c̣n hàm nhiếp trong đó. Lại nữa, bản tính ẩn kín trong tâm chúng sinh cũng giống với Tam mật của Phật, tức thực tướng tam nghiệp của chúng sinh đều là tác dụng của pháp tính Lục đại và tương đồng với Tam mật của Phật, v́ thế ba nghiệp thân, khẩu, ư của chúng sinh cũng gọi là Tam mật. Trong Tam mật của chúng sinh, hành giả dùng tay kết ấn của Bản tôn, cho đến tất cả việc đi, đứng, ngồi, nằm của hành giả đều gọi là Thân mật. Miệng hành giả tụng chân ngôn, cho đến tất cả lời nói thuộc về khẩu nghiệp, đều gọi là Ngữ mật. Tâm của hành giả quán tưởng Bản tôn, cho đến khởi lên ư niệm về tất cả sự nghiệp... đều gọi là Ư mật. Tam nghiệp của chúng sinh tương ứng với Tam mật của Phật gọi là Tam mật dụng đại, cùng với Lục đại thể đại và Tứ mạn tướng đại gọi chung là Tam đại.

Tristesse        Ai thán     sadness, mournfulness    哀歎     Karṇāyamāna
  Buồn đau, sự thê lương.

trois catégories d'actions ou trois sortes de karma        Tam nghiệp    three conditions    三業    Trīṇi karmāṇi
Actions mentales, verbales et physiques, c'est-à-dire les pensées, les paroles et les actes concrets.

  I. Ba nghiệp thân, miệng, ư:
1. Thân nghiệp: Chỉ cho những việc do thân làm. Nếu thân làm việc ác như giết hại, trộm cướp, tà dâm... th́ tạo nên nghiệp xấu, gọi là Thân ác nghiệp. Nếu thân làm việc tốt, việc thiện, như không giết hại, không trộm cắp... th́ tạo nên nghiệp thiện, gọi là Thân thiện nghiệp.
2. Khẩu nghiệp: Chỉ cho những lời nói. Nếu nói những lời gian dối, nói lời ly gián, nói ác, nói thêm bớt, nói không đúng sự thật, nói những lời gây đau khổ cho người khác... th́ tạo nên nghiệp xấu từ miệng, gọi là Khẩu ác nghiệp. Nếu không nói dối, không nói sai sự thật, ngược lại chỉ nói những lời ái ngữ, những lời nói vun đắp t́nh thương... th́ tạo nên nghiệp thiện, gọi là Khẩu thiện nghiệp.
3. Ư nghiệp: Chỉ cho nghiệp do ư thức tạo nên. Nếu ư tham muốn, sân hận, tà kiến th́ gọi là Ư ác nghiệp. Nếu không tham, sân, si th́ gọi là Ư thiện nghiệp.
II. Ba nghiệp được chia theo tính chất thiện, ác và vô kí:
1. Thiện nghiệp (Kuśala-karma): Những việc làm của thân, miệng, ư được thúc đẩy bởi tâm không tham, không sân, không si.
2. Ác nghiệp ( akuśala-karma): Những việc làm của thân, miệng, ư được thúc đẩy bởi tâm tham, sân, si.
3. Vô kí nghiệp (avyākṛta-karma): Những hành vi tự nhiên, không thúc đẩy bởi tâm niệm xấu hay tốt.

trois connaissances mystiques         Tam minh    three awarenesses    三明    tisro-vidyāḥ
Trois pouvoirs attribués aux bouddhas et bodhisattvas : 1) la capacité de connaître les vies passées, 2) la capacité de connaître les vies futures, 3) la capacité de connaître la véritable nature de la souffrance dans la vie présente et d'éradiquer les causes de ces souffrances. Ces trois connaissances sont généralement associées aux six pouvoirs mystiques.


  Cũng gọi Tam đạt, Tam chứng pháp.
Ba loại trí tuệ sáng tỏ, thông đạt vô ngại, trừ hết ngu muội, chứng được quả vị Vô học.
1. Túc mệnh trí chứng minh, pūrva-nivāsānusmṛti- jñāna-sakṣāt-kriya-vidyā, cũng gọi là Túc mệnh minh, Túc mệnh trí: Trí tuệ biết rơ tướng trạng của ḿnh từ một đời cho đến trăm ngh́n vạn ức đời, biết rơ trong những đời trước ḿnh sinh ra ở đâu, con của ai, tên ǵ, làm ǵ...
2. Sinh tử trí chứng minh, cyuty-upapāda-jñaṇa-sāk-ṣāt-kriya-vidyā, c̣n gọi là Thiên nhăn minh, Thiên nhăn trí: Trí tuệ biết rơ tướng trạng sống chết của chúng sinh, thấy rơ chúng sinh ấy do nhân ǵ, duyên ǵ mà được sinh ra, sau khi chết sẽ sinh đến chỗ nào...
3. Lậu tận trí chứng minh, āsrava-kṣaya-jñāna-sāk-ṣāt-kriya-vidyā, cũng gọi là Lậu tận trí, Lậu tận minh: Trí tuệ biết rơ như thật đă chứng được lư Tứ đế, biết ḿnh đă diệt trừ hết phiền năo, đă giải thoát hoàn toàn...

trois corps        Tam thân    The threefold body    三身    Trayaḥ kāyāḥ
trois corps ou triple corps ou trois propriétés du corps de bouddha (san-jin ou honnu musa sanjin, trikaya). Concept adopté par le Mahayana pour organiser différents concepts du Bouddha qui apparaissent dans les sutras. Nichiren compare les trois façons d'envisager l'existence du Bouddha à la lune, au rayonnement de la lune et à son reflet dans l'eau et établit un parallèle entre la pensée, la parole et l'action. Ces trois corps, dont la présence est simultanée, sont les suivants :
- le corps de dharma ou le corps non-manifesté du Dharma (hosshin, dharmakaya, Body of the Law) : il s'agit d'un "corps" de boddhéité éternel et omniprésent. On l'appelle également corps de l'Ainsité. C'est la réalité ultime de la vie, le "corps cosmique" du Bouddha auquel se réfère Shakyamuni dans le chapitre XVI du Sutra du Lotus lorsqu'il parle de l'atemporalité de son Eveil. Mais c'est également le corps des bouddhas infinis de nature identique. Pourtant le simple mortel n'en a pas conscience.
- le corps de rétribution ou propriété de la sagesse ou corps de la fructification (hoshin, hoshinbutsu, 報身・
報身仏, sambhogakaya, Body of retribution) : c'est un reflet du corps de dharma. Pour en décrire 1'action libre et resplendissante, ainsi que la pureté de la perception, on use de l'expression "corps de rétribution qui spontanément reçoit et emploie" On l'appelle également corps de la joie bouddhique car il traduit le bonheur rayonnant du Bouddha à enseigner le Dharma. Il peut être envisagé de deux façons différentes : la sagesse et la gloire. Le corps de sagesse est celui de son enseignement. Le corps de gloire se reflète dans les innombrables hyperboles de la littérature et de l'art religieux de l'Extrême-Orient. Ainsi le Bouddha est doté de trente-deux marques de beauté caractéristiques. Pour signifier l'authenticité de ses paroles on dira qu'il tire une langue longue et large qui monte jusqu'au ciel de Brahma. Le Sutra du Lotus en parle ainsi de ce bouddha : "Il a pratiqué jusqu'à leur terme les innombrables méthodes portant sur la voie des Eveillés ; plein d'audace et d'énergie, son renom s'est universellement répandu" (yu myo sho jin myo sho fu mon) (réf.)
- le corps de manifestation ou corps de l'action (oshin, ojin, 応身・応身仏, nirmanakaya, Body of Condescension, Manifest body) : manifestation du Bouddha en tant que créature. C'est la mise en action du corps de rétribution. Le Corps manifesté peut être subdivisé en inférieur (retsu-ojin) et supérieur (sho-ojin), deux aspects différents manifestés par le Bouddha lorsqu'il agit pour le bien des êtres. Le Bouddha apparaît sous la forme du Corps manifesté supérieur lorsqu'il agit pour le bien des bodhisattvas ayant atteint ou dépassé la première étape de développement, la quarante et unième des Cinquante-deux étapes de la pratique de bodhisattva. Le Bouddha emprunte l'aspect du Corps manifesté inférieur lorsqu'il agit pour le bien du commun des mortels, des personnes des deux véhicules et des bodhisattvas n'étant pas encore parvenus à la première étape de développement.
Certaines conceptions du corps de manifestation peuvent aller jusqu'à signifier le choix d'incarnation auquel procéderait un Bouddha : ainsi le choix de naître sous la forme de Gautama en Inde. Shakyamuni dit de lui-même qu'il s'est montré "tantôt comme lui-même, tantôt comme un autre"(réf.) et qu'il peut apparaître sous les traits d'un enfant, d'un conjoint, d'un ami.
S'appuyant sur le principe qu'il n'y a pas de différence de substance entre un bouddha et un simple mortel Nichiren donne à la notion des trois corps une dimension très large et il parle alors des trois propriétés du Dharma : les propriétés du Dharma, de la sagesse et de l'action.

  Cũng gọi là Tam thân Phật, Tam Phật thân, Tam Phật. Đó là Pháp thân, Báo thân, và Ứng hoá thân.
Thân có nghĩa là tụ tập. Tụ tập các pháp mà thành thân.
1. Sự tụ tập về lư pháp mà thành thân gọi là Pháp thân (Dhamra-kāya). Thân này vốn thanh tịnh, thường trụ vắng lặng, không sinh không diệt, đầy đủ công đức, b́nh đẳng nơi mỗi chúng sinh, gọi là Tự tính, là Như như, là Như như trí, là Pháp tính thân. Tức là cái thân chân thật của Phật, mà cũng là Tự tính thanh tịnh của mỗi chúng sinh, của cả pháp giới.
2. Sự tụ tập về trí pháp mà thành thân gọi là Báo thân (Saṃbhoga-kāya). Là thân công đức, tức là thân có được do sự tu tập thành tựu mọi công đức, đầy đủ tướng hảo trang nghiêm, thụ dụng pháp lạc vô biên, nên c̣n gọi là Thụ dụng thân.
3. Sự tụ tập các pháp công đức gọi là Ứng thân (Nirmāṇa-kāya). Là thân biến hoá theo căn tính của chúng sinh để mà giáo hoá. Chư Phật dùng thần lực không thể nghĩ bàn, biến hiện vô lượng, tuỳ theo các loài mà hoá thân, trụ ở các cơi tịnh uế, để giáo hoá chúng sinh.

Trois démarches de méditations        Ba loại Thiền        三種禪    
  Những pháp thiền nhằm đáp ứng ba loại căn cơ:
1. Như tu Ngũ đ́nh tâm quán, Tứ niệm xứ quán.v.v… Gọi là Tiểu thừa thiền.
2. Như tu Chỉ quán, Pháp giới quán, Duy Thức quán… Gọi là Đại thừa thiền.
3. Tham công án thoại đầu mà phát khởi nghi t́nh từ nghi đến ngộ chẳng có năng quán sở quán. Gọi là Tổ Sư Thiền.

Trois disciplines         Tam vô lậu học    Three uncontaminated studies    三無漏學    Tisraḥ śikṣāh
trois disciplines ou trois sortes d'étude (san-gaku, 三學). Les trois éléments de la pratique qu'un bouddhiste doit maîtriser. Ce sont les préceptes, la méditation et la sagesse. Cela comprend tous les aspects de la doctrine et de la pratique bouddhiques.
- La fonction des préceptes (kai, 戒, sila) est de repousser l'injustice et d'arrêter le mal, en pensées, paroles et actions.
- La méditation (jo, 定, dhyana) a pour but de permettre à l'esprit de se concentrer et de s'apaiser.
- La fonction de la sagesse (e, 慧, prajna) est de libérer une personne de ses illusions et de lui permettre d'accéder à la vérité.
Nichiren assimile les trois disciplines, à l'époque des Derniers jours du Dharma, aux Trois grands Dharmas cachés en identifiant les préceptes au kaidan, la méditation au gohonzon et la sagesse au daimoku.

  Lậu có nghĩa là phiền năo. Tam vô lậu học có nghĩa là ba môn học giúp hành giả vượt thoát khỏi sự trói buộc của phiền năo, hoàn toàn được tự do, tự tại. Lậu c̣n có nghĩa là rơi rớt, v́ vậy, tam vô lậu học c̣n là phương tiện giúp hành giả không c̣n bị rơi rớt trong ba cơi, tâm không c̣n bị ràng buộc bởi mọi lậu hoặc, khổ đau. Đây là ba môn học đoạn trừ phiền năo, chứng nhập quả vị niết-bàn, giải thoát hoàn toàn; là ba môn học căn bản, nền tảng của hệ thống giáo lư Phật giáo mà nguyên thuỷ hay đại thừa đều nói đến, đó chính là Giới - Định - Tuệ.
- Giới vô lậu học. Trong kinh Tạp A-hàm, đức Thế Tôn định nghĩa: “Tỳ-kheo an trú trong pháp Ba-la-đề-mộc-xoa, đầy đủ oai nghi và tế hạnh, cẩn trọng sợ hăi ngay cả với những lỗi nhỏ nhặt, cho nên học và thọ tŕ đầy đủ các giới, như vậy gọi là giới vô lậu học”.
- Định vô lậu học. Kinh Trung A-hàm, đức Phật định nghĩa: “Tỳ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, có giác và quán (c̣n gọi là tầm và tứ), ly sanh hỷ lạc, chứng từ sơ thiền đến tứ thiền, gọi là định vô lậu học”.
- Tuệ vô lậu học. Đức Phật dạy: “Hiểu một cách đúng đắn về khổ thánh đế, tập thánh đế, diệt thánh đế và đạo thánh đế, như vậy gọi là tuệ học vô lậu”. Kinh Tương Ưng V cũng định nghĩa tuệ học vô lậu như là sự quán triệt và thấy biết “thế nào là khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ và các phương pháp để diệt tận khổ”.
Kinh Phật Tự Thuyết th́ định nghĩa tuệ học chính là “sự hiểu rơ về giáo lư Nhân duyên hay Duyên khởi”. Theo đó, tuệ vô lậu là sự nhận thức được nguyên lư “do cái này có mặt nên cái kia có mặt. Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt. Do cái này sinh nên cái kia sinh. Do cái này diệt nên cái kia diệt”.

trois disciplines         Tam học    three practices    三學    tisraḥ śikṣāḥ
trois disciplines ou trois sortes d'étude ou trois entrainements (san-gaku, 三學, trisiksha). Les trois éléments de la pratique qu'un bouddhiste doit maîtriser. Ce sont les préceptes, la méditation et la sagesse. Cela comprend tous les aspects de la doctrine et de la pratique bouddhiques.
1) L'entraînemnt à la discipline éthique : les préceptes, (kai, 戒, kai-kakan, sila, adhisilasikasha). La fonction des préceptes (sila) est de repousser l'injustice et d'arrêter le mal, en pensées, paroles et actions.
2) L'entraînement à la méditation (jo, 定, jo-kakan, samadhisiksha, dhyana) travail sur le calme mental menant à l'examen du coeur-esprit. La méditation a pour but de permettre à l'esprit de se concentrer et de s'apaiser.
3) L'entraînement à la sagesse (e, 慧, hannya-kakan, prajnasikasha). Acquisition de la vue et de la pensée justes, par l'écoute, la réflexion et la méditation. La fonction de la prajna est de libérer une personne de ses illusions et de lui permettre d'accéder à la vérité.
Nichiren assimile les trois disciplines, à l'époque des Derniers jours du Dharma, aux Trois grands Dharmas cachés en identifiant les préceptes au kaidan, la méditation au gohonzon et la sagesse au daimoku.

  I. Ba môn học đưa đến giải thoát:
1. Tăng thượng giới học, adhiśīla-śikṣā, c̣n gọi là Tăng giới học, Giới học: Đ́nh chỉ mọi việc làm ác, thực hành mọi việc thiện, giữ ǵn ba nghiệp thân, khẩu, ư thanh tịnh.
2. Tăng thượng tâm học, adhicitta-śikṣā, c̣n gọi Tăng thượng ư học, Tăng tâm học, Định học: Khắc phục tinh thần tán loạn, diệt trừ hôn trầm, giữ tâm yên tĩnh, lắng đọng, an trú một chỗ, một niệm chuyên nhất.
3. Tăng thượng tuệ học, adhiprajñā-śikṣā, c̣n gọi Tăng tuệ học, Tuệ học: Trí tuệ hiểu rơ tướng chân thật của các pháp.
Ba môn học này có tính chất nhân quả với nhau. Nhờ giữ giới mà tâm được định, nhờ tâm an định mà trí tuệ phát sinh, nhờ có trí tuệ mà đạt được giải thoát. Cho nên, trong giới có định, trong định có tuệ, giới định tuệ là một. Đây là ba môn học nền tảng của Phật giáo.
II. Chỉ cho Hữu học, Vô học, Phi học phi vô học:
1. Hữu học, śaikṣa: Chỉ cho những người tu tập đă chứng được Tứ hướng tam quả (tức là bốn quả vị hướng đến bốn quả Thánh là Tu đà hoàn hướng, Tư đà hàm hướng, A na hàm hướng, A la hán hướng; và ba quả Thánh Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm). V́ các bậc này c̣n phải tu học để đạt đến quả vị giải thoát hoàn toàn, nên gọi là bậc Hữu học.
2. Vô học, aśaikṣa: Chỉ cho bậc đă chứng quả A la hán. A la hán đă đoạn sạch phiền năo, chứng quả Vô sinh, những việc cần làm đă làm xong, không c̣n ǵ để học, nên gọi là bậc Vô học.
3. Phi học phi vô học, naivaśaikṣa-nāśaikṣa: Chỉ cho hàng phàm phu không chứng được quả vị ǵ cả.

Trois illusions         Tam hoặc    Three delusions    三惑     
trois illusions ou trois catégories d'illusions (san-waku, 三惑). Classification établie par Zhiyi. 1) Les illusions de la pensée et du désir (kenji waku, 見思惑) : visions déformées de la vie qui naissent du contact des cinq sens avec leurs objets respectifs et qui sont la cause des souffrances humaines dans les six mauvaises voies. Pour les êtres des deux véhicules, dissiper ces illusions garantit l'entrée au nirvana et la libération des renaissances dans le monde des trois plans. Les bodhisattvas poursuivent leur pratique pour éliminer les deux catégories d'illusions suivantes ; 2) Les illusions du bodhisattva pour maîtriser d'innombrables enseignements en dehors de celui qui permettrait de véritablement sauver tous les êtres humains. (égarements des poussières jinja waku) ;
3) Les illusions sur la véritable nature de la vie. Ce sont elles qui empêchent les bodhisattvas de parvenir à l'Eveil, c'est-à-dire de s'éveiller à la vérité de la voie du milieu ; (égarements de l’obscurité, mumyo waku).

  Cũng gọi Tam chướng.
1. Kiến tư hoặc: Kiến hoặc và Tư hoặc. Kiến hoặc là do các tà kiến sinh khởi khi ư căn tiếp xúc với pháp trần. Tức là phiền năo mê lầm đối với đạo lư trong 3 đời. Tư hoặc là tư tưởng chấp trước dấy lên khi 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tham đắm nơi 5 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tcs là phiền năo mê lầm đối với sự lư ở hiện tại. Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều phải đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc th́ mới chứng được Thánh quả, nên gọi nó là Thông hoặc. V́ nó chiêu cảm sinh tử trong 3 cơi nên thuộc về hoặc nội giới (phiền năo tiềm tàng bên trong tâm), phải dùng quán chiếu tính Không mới trị được nó.
2. Trần sa hoặc: Các hoặc chướng sinh khởi v́ mê lầm đối với các pháp thuộc giới nội, giới ngoại nhiều như số cát sông Hằng, gọi là Trần sa hoặc. Bồ tát sau khi đoạn trừ Kiến tư hoặc, dễ bị dính mắc vào Không quán, gây chướng ngại cho việc tự tại giáo háo độ sinh của Bồ tát, nên Trần sa hoặc c̣n được gọi là Trước không hoặc, Hoá đạo chướng hoặc. V́ hoặc này chỉ có Bồ tát đoạn trừ nên cũng gọi là Biệt hoặc, thuộc cả giới nội và giới ngoại, phải dùng Giả quán để đối trị.
3. Vô minh hoặc: Đối với tất cả pháp không rơ biết nên gọi là Vô minh. Tức là phiền năo mê lầm về Trung đạo đệ nhất nghĩa đế. Vô minh hoặc là chủng tử của nghiệp tức, cội rễ của phiền năo, thuộc về giới ngoại, chỉ có Bồ tát Đại thừa, tu cả định lẫn tuệ, đầy đủ muôn hạnh mới đoạn trừ được hoặc này, cho nên cũng gọi là Biệt hoặc và dùng Trung quán để đối trị.
Thật ra, Tam hoặc vốn từ 1 hoặc mà chia ra theo tính chất thô và tế, chứ thể của hoặc th́ không khác, tính thô gọi Kiến tư, tính tế gọi là Vô minh, ở khoảng giữa th́ gọi là Trần sa, cho nên việc đoạn trừ lẽ ra không có thời gian trước sau khác nhau.

trois mauvaises voies        Tam ác đạo    the three evil paths, three bad migrations    三惡道    sannaku, san-akushu
Les trois premiers des dix mondes-états : enfer, esprits faméliques, animalité. En leur ajoutant le monde-état d'asura ils forment les quatre mauvaises voies (shiakudo). Ils sont mis en opposition avec les bonnes voies : hommes, ciel qui, sans être encore très élevés, permettent au moins de sortir de la passivité des trois ou quatre premières.

  Ba đường ác. Cũng gọi là Tam ác thú, Tam đồ, Tam ác.
1. Địa ngục: Ở dưới đất, giữa núi Thiết vi có 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng; những người tạo 10 nghiệp ác cực nặng sẽ bị đoạ vào đường này.
2. Ngă quỉ: Những người tạo 10 nghiệp ác bậc trung sẽ bị đoạ vào đường này. Trong đó, lại chia làm ba thành phần. Đối với người tội năng th́ nhiều kiếp không nghe thấy tên nước uống; người tội vừa th́ chỉ t́m kiếm được máu mủ, phẩn dơ của người thế gian; người tội nhẹ hơn nữa th́ thỉnh thoảng mới được một bữa ăn no do người đời cúng thí.
3. Súc sinh: Những người tạo 10 nghiệp ác bậc nhẹ th́ rơi vào đường này. Gồm những loài có lông vũ, loài có sừng, loài có vảy, loài 2 chân, 4 chân, nhiều chân, loài không chân, loài bơi dưới nước, loài bay trên không, loại đi trên đất...

trois méditations pour la délivrance        Tam giải thoát môn    three gates of liberation    三解脫門    trīṇi vimokṣa-mukhāni
trois méditations pour la délivrance (san-gedatsu-mon, 三解脱門). Trois méditations pour se libérer des souffrances provoquées par les illusions et atteindre l'Eveil. Ce sont :
1) La méditation sur la non-substantialité (ku) en contemplant le fait que les choses sont sans nature propre absolue, rien n'existe en soi, tout s'inscrit dans une relation elle-même tributaire de la temporalité ;
2) La méditation sur la non-discrimination, en contemplant le fait que, parce que toutes choses sont sans substance, il n'existe aucune différence essentielle entre elles ;
3) La méditation sur le non-désir, en contemplant le fait que, comme il n'existe aucune différence essentielle entre les choses, il n'y a rien à désirer ou vers quoi tendre. A distinguer de san joryo, trois sortes de méditations-samadhi

  Gọi tắt là Tam môn. 3 cánh cửa giải thoát, 3 pháp môn tu học giúp đạt được giải thoát, chứng đạt niết bàn.
1. Không môn, śūnyatā: Quán xét tất cả các pháp đều không có tự tính, do nhân duyên hoà hợp mà sinh, không có ta, không có của ta, tất cả các pháp đều không thật, vô thường... Thấy được sự thật này th́ sẽ được tự tại, giải thoát.
2. Vô tướng môn, animitta: C̣n gọi Vô tưởng môn. Đă biết tất cả các pháp đều là Không, nên không chấp trước, không vướng mắc vào h́nh tướng, đạt được trí vô phân biệt, tự tại vô ngại.
3. Vô nguyện môn, apraṇihita: C̣n gọi Vô tác môn, Vô dục môn. Nếu biết tất cả các pháp là vô tướng th́ trong 3 cơi không mong cầu điều ǵ nữa, không tham muốn điều ǵ nữa, nếu không mong cầu th́ không tạo tác nghiệp sinh tử, nếu không tạo nghiệp sinh tử th́ không phải chịu khổ đau, do đó được tự tại.

trois mille mondes        Tam thiên đại thiên thế giới    one billion worlds    三千大千世界    Tri-sāhasra-mahā-sāhasra-loka-dhātu
abréviation de trichilio mégachiliocosme (san-zen daisen sekai, 三千大千世界, trisahasra mahasahasro lokhadatu) ; vision cosmique du bouddhisme d'après les sutras Agama. Un microcosme, est constitué de quatre continents entourant le soleil et la lune ou encore un Mont Sumeru et comportant neuf montagnes et huit océans, ainsi que le plan des désirs et le premier ciel de méditation au sein du plan de la forme. Mille microcosmes constituent un micro chiliocosme. Mille micro chiliocosmes constituent à leur tour un moyen chiliocosme qui, multiplié par mille donne un trichilio méga trichiliocosme (trois mille grands trois mille mondes).
Une autre définition du trichiliocosme (ichidai san-zenkai, 一大三千界, donne le calcul suivant : un "petit" monde serait plus ou moins un équivalent de notre monde dans la représentation indienne antique. Mille "petits" mondes forment un "monde moyen". Mille mondes moyens forment un "grand monde". On a donc non pas "trois mille mondes" mais mille mondes à la puissance trois.

  Một thế giới hệ gồm ba ngàn Đại thiên thế giới.

Tập hợp bốn đại châu, mặt trời, mặt trăng và các cơi trời làm thành một thế giới. Một ngàn thế giới hợp lại thành một tiểu thiên thế giới (1000). Một ngàn tiểu thiên thế giới hợp lại thành một trung thiên thế giới (1000x1000). Một ngàn trung thiên thế giới hợp lại thành một đại thiên thế giới (1000x1000x1000 = 1.000.000.000 (1 tỷ thế giới).

Tam thiên đại thiên thế giới tức là 3 ngàn tỷ thế giới, là quốc độ hay phạm vi giáo hoá của một Đức Phật, gọi là Phật độ.

Trois obstacles        Tam chướng    Three hindrances    三障    Trīṇy āvaranāni
Les trois obstacles sont :
1) L'obstacle des désirs terrestres (bonno-sho), ou obstacles naissant des trois poisons que sont l'avidité, la colère et l'ignorance
2) L'obstacle du karma (go-sho) ou obstacles dus au mauvais karma créé en commettant un cinq forfaits ou des dix mauvaises actions. On fait également entrer dans cette catégorie l'opposition du conjoint et des enfants d'un pratiquant.
3) L'obstacle de rétribution (ho-sho) ou obstacles créés par la rétribution négative d'actions commises dans les trois voies mauvaises. Entrent encore dans cette catégorie les obstacles dus à l'opposition du souverain, de ses parents ou de toute personne investie d'une quelconque autorité sociale.

  Ba thứ gây trở ngại sự tu tập.
Ba thứ chướng ngại lớn nhất:
1. Phiền năo chướng, kleśāvaraṇa: Con người vốn có đầy đủ 3 phiền năo tham, sân, si, rất khó trừ bỏ, khó dạy bảo, khó mở tỏ, khó chán ĺa, khó được giải thoát.
2. Nghiệp chướng, karmāvaraṇa: Chỉ cho 5 nghiệp vô gián (phạm 5 tội cực nặng: giết cha, giết mẹ, giết a la hán, làm thân phật chảy máu, phá hoà hợp tăng), là những nghiệp ác do thân, miệng, ư gây ra, khiến đoạ lạc trong địa ngục không có cơ hội tu tập.
3. Dị thục chướng, vipākāvaraṇa: C̣n gọi là Báo chướng, Quả báo chướng. Những quả báo 3 đường ác do nhân phiền năo và nghiệp đưa đến.

trois phases de l'existence         Tam thế     three times    三世    trayo dhvānaḥ
trois phases de l'existence (san-ze, 三世). Perception relativiste du temps : passé, présent, futur. Cette approche ne contredit pas la notion d'atemporalité exprimée par le terme gohyaku jintengo car elle se situe sur un autre plan, celui de la perception par le simple mortel. Ainsi l'expression "Dans les trois phases de l'existence" désigne l'éternité où les trois phases sont inséparablement liées par la loi de cause à effet.



  Ba khoảng thời gian: Quá khứ, hiện tại và tương lai. C̣n gọi là tiền thế, hiện thế, lai thế, hoặc tiền tế, trung tế, hậu tế.
Chữ 'Thế' có nghĩa là cách biệt, là thay đổi, là biến hoá. Thời gian chuyển biến, thay đổi nên tạo ra khoảng cách quá khứ, hiện tại, tương lai, gọi là 'Thế'. Tuy nhiên, các tông phái Phật giáo thường nói: 'Thời gian không có tự thể riêng biệt, chỉ căn cứ vào các pháp mà đặt ra (thời vô biệt thể, y pháp nhi lập 時無別體,依法而立). Điều này cho thấy Phật giáo không thừa nhận thời gian có tự thể riêng biệt, mà nói rằng thời gian là căn cứ vào trạng trái của các pháp mà phân ra. Nghĩa là, khi các pháp sinh mà có tác dụng th́ gọi là hiện tại, các pháp đă tiêu diệt hết hoặc tác dụng của nó bị dừng lại th́ gọi là quá khứ, các pháp chưa sinh cũng chưa có tác dụng th́ gọi là vị lai.

trois plans         Tam giới    three categories of self-restraint    三界    trayo dhātavaḥ
trois plans ou trois mondes ou triple monde ou mondes des 3 plans (san-gai, 三界, trailokya). Système de classification issu de la cosmologie indienne et constitué du plan du désir, du plan de la forme pure et du plan du sans-forme ou informel (arupya-dhatu). Cette triade recoupe les six premiers mondes de la théorie des dix mondes.
- le plan du désir sensuel (yokkai, 欲界, kama dhatu). Le premier niveau du monde des trois plans, appelé ainsi parce que ses habitants sont soumis à divers désirs tels que le désir de nourriture et le désir sexuel. Ce monde est composé des quatre voies mauvaises (mondes de l'enfer, des esprits affamés, des animaux, des asura et des hommes), des quatre continents entourant le Mont Sumeru et des six premiers niveaux du Ciel (les six ciels du monde du désir). Dans le sixième ou plus élevé de ces six ciels vit le Roi-Démon du Sixième Ciel dont on dit qu'il a un grand désir de soumettre les autres à sa volonté et qui maintient les êtres dans 1'asservissement du désir et dans 1'espoir de la réalisation des espérances
- le plan de la forme (shikikai, 色界, rupadhatu). C'est le plan de la matière subtile. Les êtres qui s'y trouvent ont des corps physiques et sont sujets à certaines limitations matérielles, mais ils se sont éveillés à la structure réelle des choses et n'ont aucun désir, se nourrissant de lumière. Ce monde comprend les quatre ciels de la méditation et se subdivise en dix-huit ciels (seize ou dix-sept selon d'autres explications). Le plus élevé est le Ciel Akanishtha (Akanitaten ou Shikikukyoten).
- le plan du sans-forme (mushikikai, 無色界, arupadhatu). Parfois traduit par "monde de l'esprit". C'est le troisième niveau du monde des trois plans. Etant un royaume purement spirituel, il ne peut être situé au-dessus du plan de la forme, bien qu'il soit souvent représenté graphiquement ainsi, pour les besoins de la logique. On dit qu'on peut atteindre le plan du sans-forme par la méditation. Il comprend quatre domaines que l'on conçoit à l'aide de méditations de plus en plus profondes. Il s'agit du domaine où tout est non substantiel (kumuhenjo), du domaine où il n'y a que la conscience (shikimuhenjo), du royaume où rien n'existe (mushousho) et du royaume où il n'y a ni pensée ni absence de pensée (hisohihisosho). Voir le schéma des différents ciels. Et également l'article sur le triple monde.

  Ba cơi chúng sinh qua lại cư trú trong quá tŕnh sinh tử luân hồi.
1. Dục giới (Kama-dhātu): Thế giới của các loài chúng sinh có tính dâm dục, t́nh dục, sắc dục và thực dục cư trú. Trên có 6 tầng trời, giữa có bốn đại châu cơi người, dưới có ba đường ác.
2. Sắc giới (Rūpa-dhātu): Thế giới cư trú của loài chúng sinh đă xa ĺa dâm dục và thực dục ở cơi Dục, nhưng vẫn c̣n có sắc chất thanh tịnh. Cơi này ở phía trên cơi Dục, không có các thứ dục nhiễm, cũng không có thân nữ, chúng sinh ở cơi này đều do hoá sinh. Cơi này tuỳ theo thiền định sâu cạn mà được chia làm bốn bậc, từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tổng cộng có 18 tầng trời.
3. Vô sắc giới (Ārūpya-dhātu): Thế giới cư trú của loài chúng sinh chỉ có thụ, tưởng, hành, thức chứ không có vật chất, cũng không có thân thể, cung điện, quốc độ, chỉ có tâm thức trụ trong thiền định sâu xa mầu nhiệm. Thế giới này trên cơi Sắc, có tất cả 4 tầng trời.

Trois poisons        Tam độc    Three poisons    三毒    
Les trois causes de toute création de karma, trois principales sources de la souffrance humaine :
1. L'avidité ou l'égoïsme (taṇhā; tṛṣṇā)
2. La haine ou la colère (dveṣa)
3. L'aveuglement ou l'ignorance (avijjā; avidyā)


  Chỉ cho 3 thứ phiền năo: Tham dục, sân hận, ngu si. Tất cả phiền năo gọi chung là ĐỘC, nhưng 3 thứ phiền năo này có khắp 3 cơi, là thứ độc hại nhất trong thiện tâm xuất thế của chúng sinh, thường khiến loài hữu t́nh chịu khổ trong nhiều kiếp không thoát ra được, cho nên đặc biệt gọi là Tam độc. Ba thứ độc này là nguồn gốc của 3 hành vi xấu ác: thân bất thiện, khẩu khẩu bất thiện, ư bất thiện, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn, đứng đầu các phiền năo căn bản.

trois sceaux du Dharma         Tam pháp ấn        三法印    dharma-mudrā
trois sceaux du Dharma (samboin, 三法印). Trois principes d'identification du bouddhisme : impermanence, non-substantialité, nirvana. En y ajoutant la souffrance, on a les quatre sceaux du Dharma qui permettent de distinguer les enseignements bouddhiques des autres doctrines.



  Pháp ấn, tiếng Phạn dharma-mudrā hoặc dharma-uddāna, có nghĩa là dấu ấn của Chánh pháp, là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết Phật pháp. Kinh điển nào có nội dung tư tưởng phù hợp với Pháp ấn th́ được coi là kinh điển do Phật thuyết, ngược lại, kinh điển nào có nội dung tư tưởng trái ngược với Pháp ấn th́ được coi là kinh điển không do Phật thuyết.
Pháp là lư tính tự nhiên và phổ biến cùng khắp. Ấn là dấu ấn, là khuôn dấu, dùng nó để chứng thật là cứu cánh, chính xác. Nhờ khuôn dấu này để xác nhận Phật pháp cho nên gọi là Pháp ấn.
Ba Pháp ấn là giáo nghĩa trọng yếu của Phật pháp, nó giúp ta phán đoán cái được gọi là Phật pháp cuối cùng có đúng là Phật pháp hay không. Khi đem ba Pháp ấn này ra đối chiếu, so sánh, nếu thấy giáo lư nào trái ngược với ba Pháp ấn th́ cho dù giáo lư đó được cho là đích thân do Phật thuyết th́ nó cũng không phải Phật pháp; ngược lại, nếu thấy giáo lư nào khế hợp, tương ưng với ba Pháp ấn, tức là cùng tương ưng với Phật pháp, th́ cho dù có ai đó nói rằng đây không phải do Phật thuyết, th́ nó cũng đúng với Phật pháp như thường.
Ba Pháp ấn là Chư hành vô thường, Chư pháp vô ngă và Niết-bàn tịch tĩnh. Cũng có thể thêm vào sau Chư hành vô thường một dấu ấn nữa là Chư thọ giai khổ để trở thành Bốn Pháp ấn. Tuy nhiên, Khổ là sự phán đoán của bậc giác ngộ đối với chúng sanh hữu t́nh ở thế gian và nó đă bao hàm trong ư nghĩa Chư hành vô thường, cho nên, theo chân tướng của sự lư mà nói th́ Ba Pháp ấn là đă đầy đủ tất cả.
1. Các hành vô thường, Phạm anityāḥ sarva-saṃskārāḥ, cũng gọi là Nhất thiết hành vô thường ấn, Nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn, gọi tắt là Vô thường ấn: Tất cả các pháp hữu vi ở thế gian đều là vô thường, v́ chúng sinh không rơ biết, cho nên đối với vô thường lại chấp thường, bởi vậy Phật nói vô thường để phá cái chấp thường của chúng sinh.
2. Các pháp vô ngă, Phạm nirātmānaḥ sarva-dharmāḥ, cũng gọi là Nhất thiết pháp vô ngă ấn, gọi tắt là Vô ngă ấn: Tất cả các pháp hữu vi trong thế gian đều là vô ngă, vi chúng sinh không rơ biết, cho nên đối với hết thảy pháp đều cho là có chủ tể, bởi vậy Phật nói vô ngă để phá cái chấp ngă của chúng sinh.
3. Niết bàn tịch tĩnh, Phạm śantaṃ nirvāṇam, cũng gọi là Niết bàn tịch diệt ấn, Tịch diệt niết bàn ấn, gọi tắt là Niết bàn ấn: Hết thảy chúng sinh không biết cái khổ sinh tử, nên khởi hoặc tạo nghiệp, trôi lăn trong ba cơi, bởi thế Phật nói pháp Niết bàn đẻ ra khỏi khổ sinh tử, được Niết bàn tịch diệt, an vui.

trois sortes d'offrandes         Tam thí        三施     
trois sortes d'offrandes (san-se, 三施) Plusieurs listes :
A. 1) offrande de biens : nourriture, médicaments, vêtements ; 2) offrande du Dharma :enseigner ou expliquer le Dharma ; 3) offrande de courage : sécuriser dans des circonstances difficiles.
B. 1) offrande de biens ; 2) offrande de vénération ; 3) offrande du Dharma.
C. 1) offrande de nourriture et de boisson ; 2) offrande de trésors rares ; 3) offrande de la vie.

  Ba h́nh thức hay ba cách cúng dường, bố thí:
1. Tài thí: Tự ḿnh giữ giới, không xâm phạm đến tài vật của người khác, lại c̣n đem tài vật của ḿnh bố thí cho kẻ khác.
2. Pháp thí: Thuyết pháp cho mọi người nghe, khiến cho họ khai mở trí tuệ, thoát khổ được vui.
3. Vô uư thí: Người giữ giới không có tâm sát hại, không có tâm niệm ác, cho nên gần gũi với tất mọi loại chúng sinh mà chúng sinh không hề lo sợ, đó là ban cho chúng sinh sự không sợ hăi.
Ngoài ra, các kinh luận c̣n nói 3 loại bố thí khác, như Đại trí độ luận nói 3 loại thí là Vật thí, Tài thí (cho của cải), Cúng dường cung kính thí (dùng tâm tin tưởng, thanh tịnh cung kính lễ bái), Pháp thí (thuyết pháp); Hoa Nghiêm kinh sớ sao th́ nói: Ẩm thực thí (cho thức ăn, thấy người đói khát lập tức đem cơm nước cung cấp cho họ), Trân bảo thí (thấy người nghèo khổ, bần cùng th́ đem tiền bạc cho họ có vốn làm ăn), Thân mạng thí (đem cả thân mạng ḿnh cho chúng sinh).


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13