Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Recherche par mot

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Recherche par lettre
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Recherche par genre:
BouddhasSûtrasNoms-LieuxTermes

Bilingue
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13 

Prochaine existence (Vie suivante)        Hậu kiếp    Next life    後劫    Abhisamparăya
  Đời sau, kiếp sau, đời sống kế tiếp.

production conditionnée         Duyên sinh    Produced by causal conditions    緣生    pratītya-samutpāda
Dépendance causale (ou conditionnée) de tout ce qui est. Doctrine bouddhique selon laquelle aucun être ou phénomène n'existe tout seul ; ils existent ou se produisent en raison de leur rapport avec d'autres êtres et phénomènes. Tout dans le monde n'a d'existence qu'en réponse aux causes et aux conditions. Voir la doctrine douze liens, illustration bien connue de cette idée.

  Xem "Duyên khởi"

Professeur        A xà lê    Professor    阿闍梨    Àcàrya
Professeur des nouveaux moines.

  Người thầy mà ḿnh gần gũi, nương tựa để học hỏi. Người thầy này có bổn phận dạy đệ tử các thứ giới luật Tỳ kheo, từ xuất gia, thọ giới, học kinh, cho đến dạy pháp môn tu hành.

Quatre démons        Tứ ma        四魔    Catvāro mārāḥ
Les quatre démons sont les "démons intérieurs". Ce sont :
1) L'entrave des cinq agrégats (on-ma, skandha-mara), c'est-à-dire les entraves provoquées par besoins physiques et mentaaux d'une personne ; .
2) L'entrave des désirs égocentriques (bonno-ma, klesha-mara) ou entraves qui naissent des trois poisons ; 3) L'entrave de la mort (shi-ma, mrityumara) due à la crainte et la souffrance que la mort provoque, empêchant ainsi de pratiquer le bouddhisme. C'est également le trouble que peut susciter dans la communauté des croyants la mort de l’un d’entre eux ; 4) L'entrave du Roi-Démon du Sixième Ciel (tenji-ma, devaputra-mara). Notre peur de l'inconnu et désir dévorant de sécurité. Le sixième ciel est celui du contentement qui naît de la réalisation d'un désir. Le fait même que ce désir soit satisfait crée un vide et une nouvelle frustration. On considère également que cette entrave est la crainte de l'oppression exercée par des personnes détenant le pouvoir (crainte du jugement des autres).

  Bốn loài ma đoạt mất thân mạng và trí tuệ của con người.
1. Ấm ma, skandha-māra, c̣n gọi là Uẩn ma, Ngũ ấm ma, Thân ma: Con ma 5 uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức. 5 uẩn tích tụ lại thành quả khổ sinh tử, pháp sinh tử này thường cướp đi tuệ mạng của chúng sinh.
2. Phiền năo ma, kleśa-māra, cũng gọi là Dục ma: 108 thứ phiền năo trong ḿnh thường năo loạn tâm thần chúng sinh, cướp đi tuệ mạng, khiến không thành tuệ được bồ đề.
3. Tử ma, mṛtyu-māra: Con ma chết. Sự chết làm cho 4 đại của chúng sinh phân tán, hoặc chết yểu, khiến người tu hành mất cơ hội tiếp tục tu tập, không thể kéo dài tuệ mạng.
4. Thiên tử ma, deva-putra-māra, cũng gọi là Tha hoá tự tại thiên tử ma, Thiên ma: Tức vua ma ở tầng trời thứ 6 của cơi Dục, thường phá hại các việc tốt lành của con người, ghen ghét với pháp của bậc Hiền thánh, gây những việc nhiễu loạn, làm cho người tu hành không thành tựu được thiện căn xuất thế.

quatre formes de naissance         Tứ sinh    four kinds of birth    四生    catasro-yonayaḥ
Classification des façons de venir au monde : 1) la naissance depuis le ventre d'une mère ; 2) la naissance depuis les oeufs ; 3) la naissance par la moisissure, comme on pensait que se formaient, par exemple, les vers ; 4) la naissance par transformation, comme dans le cas des divinités ou des êtres infernaux. On disait que ces êtres, au terme de leur vie précédente, apparaissaient soudain de telle ou telle façon en raison de leur karma, sans l'aide de parents ou autres agents intermédiaires.

  Chỉ cho 4 chúng sinh khác nhau của loài hữu t́nh trong 6 đường thuộc 3 cơi.
1. Noăn sinh, Phạm aṇḍaja-yoni: Loài sinh ra từ trứng.
2. Thai sinh, Phạm jarāyujā-yoni: Loài sinh ra từ thai mẹ.
3. Thấp sinh, Phạm Saṃsvedajā-yoni: Loài sinh ra từ khí ẩm thấp tại những chỗ ướt át.
4. Hoá sinh, Phạm upapādukā-yoni: Như hữu t́nh ở các cơi trời, trong địa ngục, trung hữu... đều do nghiệp lực quá khứ mà hoá sinh.

quatre formes de naissance         Sám hối    Repent    懺悔    Kṣamayati
sange 懺悔ou zange (reconnaître ses erreurs, repentir, deshana ou kshama = pardon). Dans les monastères indiens, une réunion (uposhadha), avait lieu deux fois par mois, au cours de laquelle les membres du Sangha qui avaient violé les préceptes, s’excusaient devant le Bouddha ou devant les autres moines afin de purifier leur esprit. En outre, une cérémonie annuelle (pravarana, jishi, 自恣) était accomplie à la fin de la retraite de la saison des pluies au cours de laquelle les moines se repentaient publiquement des erreurs qu’ils avaient commises pendant cette période de trois mois. Avec le développement du Mahayana, une insistance moins grande fut mise sur les règles monastiques et la signification du repentir a changé en conséquence. Puisque les actions mauvaises découlent, fondamentalement, de l’ignorance de la véritable nature de la vie, s’éveiller à cette nature, c’est-à-dire à l’aspect véritable de tous les phénomènes et faire apparaître sa propre sagesse de bouddha, en purifiant ainsi sa vie, constitue l’acte de sange par excellence. La notion de repentance a été reprise et développée par le Zen à l'époque de Kamakura et fortement influencée par le code de l'honneur des samouraïs. Dans l'enseignement de Nichiren le terme de sange ne s'applique plus que par rapport à l'opposition au Sutra du Lotus.

  Thấy được lỗi lầm ḿnh đă gây tạo, cảm thấy ăn năn và mong được tha thứ. Tức là, khi ḿnh làm điều tội lỗi hay phạm phải những điều sai lầm ḿnh cần phải sám hối th́ tội lỗi mới tiêu trừ và trở lại thanh tịnh.
Kinh Phật v́ trưởng lăo Thủ-ca giảng về sự sai biệt của nghiệp, nói rằng: ‘Người nào tạo trọng tội th́ phải tự trách ḿnh, ăn năn sám hối, thệ nguyện không bao giờ tái phạm. Sám hối như vậy th́ có thể nhổ được gốc rễ của nghiệp’.
Kinh niết-bàn, ghi rằng: ‘Nếu đại vương biết sám hối, ḷng cảm thấy hỗ thẹn với lỗi lầm ḿnh đă tạo th́ tội lỗi sẽ tiêu diệt, đại vương sẽ trở lại thanh tịnh như xưa’.
Từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay, sám hối luôn luôn được coi là một trong những pháp tu hành quan trọng của người học Phật. Ngoại trừ trường hợp sám hối riêng lẽ thực hiện tùy lúc, trong đời sống tu học có định kỳ thực hiện nghi thức sám hối đều đặn, tức là mỗi nửa tháng cử hành lễ bố-tát (sám hối và tụng giới) một lần, mỗi năm một lần tổ chức lễ tự tứ (tự ḿnh nói lên lỗi lầm của ḿnh đă phạm và xin người khác chỉ cho ḿnh lỗi lầm đă phạm để sám hối) một lần sau ba tháng an cư.
Phương pháp sám hối thực tiễn cụ thể th́ tùy theo thời đại, phong tục, tông phái… mà có đôi chút khác nhau, chứ không có một định chế bắt buộc. Một cách tổng quát, theo Luật tông, có hai cách sám hối sau đây:
1. Chế giáo nghi: Cách thức sám hối những tội lỗi vi phạm giới luật, chỉ giành riêng cho người xuất gia. Có ba phần:
a. Tội pháp sám: Đứng trước đại chúng gồm có bốn người trở lên để sám hối.
b. Đối thủ sám: Đứng trước người thầy của ḿnh, hay trước một vị tăng thanh tịnh để sám hối.
c. Tâm niệm sám: Hướng về Đức Phật Thế Tôn tự ăn năn sám hối.
2. Hóa giáo nghi: Cách thức sám hối những hành vi sai trái liên quan đến thiện ác, giành cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
Thiên thai tông c̣n lập ra các pháp sám hối thực tiễn hơn: Sự sám (phân biệt tùy lúc sám hối); Lư sám (quán thật tướng, thể ngộ tính chất của tội lỗi cũng có Tánh không); Tác pháp sám hối (y theo giới luật mà thực hành sám hối); Thủ tướng sám hối (quán tưởng tướng hảo của Phật, chừng nào thấy tướng hảo xuất hiện th́ tội lỗi tiêu trừ); Vô sanh sám hối (niệm thật tướng, ngộ được tội vốn vô sanh). Trong các phương pháp sám hối trên, Lư sám hoặc Vô sanh sám được dùng làm trung tâm, tổ chức thành phương pháp thực tiễn là ‘Pháp hoa tam-muội sám nghi’, đề xướng việc thực hành sám hối sáu căn.
Do phương pháp và tính chất sám hối có nhiều loại, cho nên văn sám hối cũng có nhiều bài. Trong Phật giáo đại thừa, văn sám hối thường được sử dụng nhiều nhất là bài kệ trong kinh Hoa nghiêm:
‘Con xưa vốn tạo bao ác nghiệp,
Đều do vô thủy tham, sân, si,
Từ thân miệng ư phát sinh ra
Tất cả con đều xin sám hối’.
Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết-ma sớ, quyển 4, ghi rằng, muốn thực hành sám hối cần phải hội đủ 5 điều kiện:
1. Thỉnh mười phương chư Phật, Bồ tát chứng minh
2. Tụng kinh chú
3. Nói lên cái tội mà ḿnh đă phạm
4. Lập lời thề không tái phạm
5. Đúng như giáo pháp chứng minh cho.
Viên giác kinh lược sớ sao, quyển 12, cho biết, trong truyền thống Phật giáo Nam truyền, muốn sám hối phải thỉnh đại tăng Tỳ-kheo làm chứng, khi đối trước đại tăng phải làm đủ 5 pháp:
1. Để lộ vai bên phải
2. Gối phải quỳ xuống đất
3. Chắp tay
4. Nói lên tội ḿnh đă phạm
5. Lễ sát chân đại tăng.
Nếu trường hợp không có đại tăng th́ không cần thực hành pháp thứ 5.
Chiêm sát thiện ác nghiệp báo kinh, quyển thượng, cho biết, khi thực hành sám hối thành công, người ấy sẽ đắc được cái tướng ba nghiệp thiện, hào quang sáng rực cả pḥng, ngửi được mùi hương lạ vô cùng đặc biệt, thân thể và tâm ư đều được an lạc, nhẹ nhàng, hoặc nằm mộng thấy Phật và Bồ-tát đến lấy tay xoa đầu, nói : ‘Lành thay! Nay con đă được thanh tịnh, v́ vậy Ta đến để chứng minh cho con!’
Đại thừa bổn sanh tâm địa quán kinh, quyển 3, cũng nói ‘Nếu người nào thực hành sám hối đúng như pháp th́ phiền năo chắc chắn tiêu trừ. Giống như thế gian bị kiếp hỏa hủy hoại, thiêu cháy đến tận núi Tu-di, làm khô hết biển cả, sám hối đúng như pháp cũng sẽ đốt cháy hết mọi phiền năo, sám hối đúng như pháp sẽ văng sanh đến cơi trời, sám hối đúng như pháp sẽ đắc được an lạc của Tứ thiền, sám hối đúng như pháp th́ cảm được được mưa báu ngọc ma-ni, sám hối đúng như pháp th́ được thọ mạng lâu dài như kim cương, sám hối đúng như pháp sẽ đưa đến cung thương lạc, sám hối đúng như pháp sẽ thoát khỏi ngục tù ba cơi, sám hối đúng như pháp sẽ làm nở đóa hoa bồ-đề, sám hối đúng như pháp sẽ thấy được Phật…’

Quatre incommensurables        Tứ Vô Lượng Tâm (Từ Bi Hỷ Xả)    four immeasurable minds    四無量心    catvāry apramāṇāni
Les quatre conduites ou sentiments pieux (brahmavihāras) sont aussi appelés les quatre incommensurables car ils pourraient être développés indéfiniment et conduisent à « l'éveil parfait ».

Il s'agit d'émotions positives qui pourraient être développées par des pratiques appropriées :
1- La bienveillance universelle (mettā): Souhait que tous les êtres trouvent le bonheur et les causes du bonheur
2- La compassion (karunā) : Souhait que les êtres soient libérés de la souffrance et des causes de la souffrance
3- La joie sympathique (muditā) : Souhait que les êtres trouvent la joie exempte de souffrance
4- L'équanimité (uppekkā): Souhait que les êtres demeurent dans la grande équanimité libre de partialité, d'attachement et d'aversion.

  Bốn tâm rộng lớn làm lợi ích cho chúng sanh. V́ muốn giúp cho vô lượng chúng sanh ĺa khổ được vui mà khởi bốn loại tâm Từ - Bi – Hỷ - Xả, hoặc nhập vào bốn loại thiền quán Từ - Bi – Hỷ - Xả.
C̣n gọi là Bốn vô lượng, Bốn đẳng tâm, Bốn đẳng, Bốn phạm trụ, Bốn phạm hạnh, Vô lượng tâm giải thoát.
- Từ: Tâm thương yêu.
- Bi: Tâm đồng cảm với nỗi khổ đau của chúng sanh.
- Hỷ: Hoan hỷ khi nh́n thấy chúng sanh hạnh phúc.
- Xả: Xả bỏ tất cả các tướng sai biệt giữa người oán kẻ thân mà khởi cái nh́n b́nh đẳng với mọi loài chúng sanh.
- Từ tâm vô lượng là tâm đem cho chúng sanh an lạc không cùng tận.
- Bi tâm vô lượng là tâm cứu bạt chúng sanh thoát khỏi khổ năo không giới hạn.
- Hỷ tâm vô lượng là tâm không bao giờ ganh tỵ khi nh́n thấy chúng sanh hưởng hạnh phúc an lạc, ngược lạc c̣n vô cùng hoan hỷ.
- Xả tâm vô lượng là tâm xả bỏ tất cả mọi ư niệm phân biệt giữa người thân, kẻ oán, khởi tâm b́nh đẳng nh́n chúng sanh và đem đến cho chúng sanh vô lượng lợi ích.

quatre méditations hinayana ou theravada        Tứ niệm xứ    The fourfold stage of mindfulness    四念處    catvāri smṛty-upasthānāni
Comment purifier le mental ? Dans le mahá Satipaṭṭhāna sutta, Bouddha enseigne que : « la seule voie qui mène à la purification du mental est l'établissement de l'attention. » Il y a quatre établissements de l'attention:
1. Établissement de l'attention sur les mouvements et la matière du corps
2. Établissement de l'attention sur les sensations
3. Établissement de l'attention sur les états de conscience et les pensées
4. Établissement de l'attention sur les phénomènes tels que les visions, les sons, les odeurs, les goûts et les touchers.

L'entraînement à ces quatre établissements de l'attention constitue le seul moyen de purifier le mental.


  Là bốn phép quán cơ bản về sự tỉnh giác. Phương pháp thiền quán của Phật giáo nguyên thủy gồm :
- quán thân (sa., pi. kāya),
- quán thụ (sa., pi. vedanā),
- quán tâm (sa., pi. citta) ,
- quán pháp (tức là những ư nghĩ, khái niệm, gom lại là tâm pháp).

Phương pháp quán chiếu này được nói rơ trong kinh Tứ niệm xứ (pi satipaṭṭhāna-sutta) và Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn. Ngày nay tại phương Tây, phép quán bốn niệm xứ được phổ biến rộng, trong đó hành giả ngồi (Toạ thiền) hay áp dụng phép quán này trong các hoạt động hàng ngày.
● Quán Thân bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào (pi. ānāpānasati), cũng như tỉnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi.
● Quán Thụ là nhận biết rơ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thường của chúng.
● Quán Tâm là chú ư đến các tâm pháp (ư nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).
● Quán Pháp là biết rơ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngă, biết rơ Ngũ chướng có hiện hành hay không, biết rơ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rơ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rơ Tứ diệu đế.

Quatre nobles vérités         Tứ diệu đế        四妙諦    catvāri āryasatyāni
Les quatre nobles vérités sont les fondements cruciaux du bouddhisme à partir desquels le bouddha a atteint l'éveil et avec lesquels il a donné, à Bénarès, son premier sermon appelé la mise en mouvement de la roue du dharma. Ces quatre vérités sont qualifiées de nobles (ārya) car elles expriment l'ensemble de la vérité universelle, et mènent à la libération complète et définitive les individus consentants à suivre les chemins justes indiqués par le bouddha.


  Bốn chân lư cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo. Tứ diệu đế là nội dung của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích-ca Mâu-ni, và cũng là nội dung chính của bài kinh đầu tiên, kinh Chuyển pháp luân.

Tứ diệu đế là:
1. Khổ đế hay chân lư về sự Khổ: Chân lư thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ năo, không trọn vẹn. Sinh, lăo bệnh, tử, xa ĺa điều ḿnh ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn, là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.
2. Tập khổ đế hay chân lư về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, ái , t́m sự thỏa măn dục vọng, thỏa măn được trở thành, thỏa măn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi.
3. Diệt khổ đế hay chân lư về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt th́ sự khổ cũng được tận diệt.
4. Đạo đế hay chân lư về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo.

quatre sceaux du Dharma         Tứ pháp ấn        四法印    dharma-mudrā
quatre sceaux du Dharma (shihon, 四法印, dharma mudra, four Dharma seals). Concepts qui permettent de reconnaître si une théorie ou une doctrine ressortissent du bouddhisme. Sont reconnues comme écoles bouddhiques celles qui enseignent :
- l'impermanence des multiples dharmas (multiples mouvements) ; (shogyo mujo, 諸行無常, anitya sarva samskarah) ;
- les multiples dharmas sont sans substance ; (shoho muga, 諸法無我, anatmanah sarvadharmah) ;
- tous les mouvements sont souffrance ; (issai gyo ku, 一切行苦, dukkhah sarva samskarah) ;
- le nirvana est sérénité et pureté ; (nehan jakujo, 涅槃寂靜, santam nirvanan).

  Bốn pháp ấn, bốn khuôn dấu, bốn pháp đặc biệt của Phật giáo. Trong Tam pháp ấn, thêm một pháp ấn là Nhất thiết hành khổ mà thành ra Tứ pháp ấn. C̣n gọi là Tứ pháp bản mạt, Tứ ưu đà na (udāna).
Cũng như Tam pháp ấn, Tứ pháp ấn là bốn pháp đặc biệt dùng để ấn chứng, làm tiêu chuẩn xác định có phải là kinh điển do Phật nói hay không.
1. Nhất thiết hành vô thường ấn: Tất cả các pháp đều vô thường.
2. Nhất thiết hành khổ ấn: Tất cả các pháp vô thường nên đưa đến khổ đau.
3. Nhất thiết pháp vô ngă ấn: Tất cả các pháp đều vô ngă, không có tự tính riêng biệt.
4. Niết bàn tịch diệt ấn: Niết bàn là vắng mặt, dập tắt mọi khổ đau, là hạnh phúc tuyệt đối.

quatre vœux du bodhisattva         Tứ hoằng thệ nguyện    four great vows of bodhisattvahood    四弘誓願    
The four universal vows of a Buddha or bodhisattva: 衆生無邊誓願度 to save all living beings without limit; 煩惱無數誓願斷 to put an end to all passions and delusions however numerous; 法門無盡誓願學 to study and learn all methods and means without end; 佛道無上誓願成 to become perfect in the supreme Buddha-law.

  Bốn lời nguyện rộng lớn.
1. Chúng sinh vô số lượng, thệ nguyện đều độ khắp
2. Phiền năo nhiều vô lượng, thệ nguyện đều dứt trừ
3. Pháp môn vô số kể, thệ nguyện đều học hết
4. Phật đạo không ǵ hơn, thệ nguyện sẽ chứng thành (đạt được)

Quatrième niveau d'expérience méditative        Tứ thiền    Fourth meditation    四禪    Catvāri dhyāna
Le quatrième niveau d'expérience méditative comprend 4 états:
- Ni souffrance, ni bonheur
- L'équanimité
- L'établissement de l'attention
- L'unification du sujet et objet

  Đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đă cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Tứ thiền xả bỏ diệu lạc đă chứng trước đây, gọi là Xả thanh tịnh, chỉ nhớ nghĩ tu dưỡng công đức, gọi là Niệm thanh tịnh, do đó mà có được cảm nhận chẳng phải khổ chẳng phải vui. Tất cả những hoạt động và cảm thụ vừa nói trên đều diễn ra trong trạng thái thiền định "Tâm nhất cảnh tính".

Relique        Xá Lợi    Relic    舍利    Śarīra
Les reliques sont des perles, des billes ou des morceaux d'os restants après la crémation du corps physique du Bouddha ou des saints, des grands maîtres.
Auparavant, on ne croyait pas à l'existence des reliques du Bouddha. Jusqu'en 1898, Monsieur W.C.PEPPE, un Anglais, lors d'une fouille archéologique à Piprawa, au sud du Népal, a découvert une boîte en pierre relativement grande, qui contenait 2 vases et quelques objets tels des tasses de thé, en pierre aussi… Dans ces 2 vases de taille différente, il y avait des reliques. Le petit vase était rond, divisé en deux parties, haut et bas. Sur la moitié supérieure à côté des anses, était gravée l'année du roi Asoka en langue Brahmi et on pouvait y lire : "Voici des reliques du Bouddha. Elles ont été vénérées par la famille Sakya, du pays Sravasti". Le résultat de cette découverte archéologique prouve que ce qui était dit dans le Sutra Dirghagama, ainsi dans d'autres sutras était véridique, à savoir que les reliques du Bouddha étaient partagées en 8 parties, et données à 8 pays différents après le paranirvana du Bouddha,.
Il a été mentionné qu' "Après le paranirvana du Bouddha dans la forêt Sala à Kusinagara, ses reliques ont été divisées en 8 parties et 8 stupas ont été construits dans les 8 pays qui les ont reçues pour les conserver. Le 9ème stupa est un vase, le 10ème contient Ses cendres, et le 11ème contient les cheveux du Bouddha de son vivant".
Selon le sutra "Le Bodhisattva dans la matrice maternelle", 3ème livre, chapitre "Impermanence", il y a deux sortes de reliques : les reliques du corps complet et les reliques fragmentaires. Les premières consituent un corps physique qui ne se décompose pas après la mort, mais se déssèche et se durcit comme du diamant. Les deuxièmes sont la partie du corps qui reste après l'incinération.
Selon le sutra "Les Mérites de Laver un Bouddha" il y a les reliques du corps du Bouddha et les reliques du corps du Dharma. Ces reliques demeureront dans le monde après le paranirvana du Bouddha, comme la Vinaya et le Dharma demeureront toujours un refuge pour tous les êtres.
D'après le Phap Uyen Chau Lam (La Forêt de Joyaux dans le Jardin du Dharma, une anthologie des termes bouddhiques de Daoshi), livre 40, il y a trois sortes de reliques : reliques d'os de couleur blanche, reliques des cheveux de couleur noire, et reliques de la chair de couleur rouge.
Depuis toujours, les fidèles bouddhistes ont fait circuler et ont vénéré trois sortes de reliques du Bouddha, ce sont les reliques d'os du sommet de la tête, les reliques des dents, et les reliques du doigt.
Le Sutra "Claire Lumière", livre 4, écrit : "Les reliques sont le résultat d'un processus de pratique de l'éthique, de la méditation et de la sagesse, très difficile à atteindre, c'est pourquoi ce sont des champs de mérites insurpassables".
Le Mahaprajnaparamita-sastra, livre 59, dit que "Faire une offrande aux reliques du Bouddha, même insignifiante comme une graine de moutarde, génère des mérites incalculables". Ce sastra informe aussi que les reliques sont le fruit de la pratique des six paramitas.
En conclusion, les reliques sont la cristalisation d'un processus de la pratique d'éthique, de la méditation, de la sagesse, et de la libération qui en résulte. Cependant, si l'on observe les activités des bouddhas, des Bodhisattvas et des patriarches, on se rend compte que les reliques sont aussi la concrétisation de leur grand courage, de leurs vœux sans limite, renforcés par leur grande compassion, dans le but de protéger le Dharma et de conférer le salut à tous les êtres.

  Là những hạt, những viên hoặc những mảnh xương cốt c̣n lại sau khi hỏa táng.
Trước đây người ta không tin là có xá-lợi Phật. Măi đến năm 1898, ông W.C. Peppé, người Pháp, tiến hành khảo cổ tại vùng Pīprāvā, phía nam nước Népal, đă t́m thấy một cái hộp bằng đá khá lớn, trong đó có chứa hai cái b́nh bằng đá và vài dụng cụ bằng đá khác như tách trà… Hai h́nh đá một lớn một nhỏ đều có chứa những viên xá-lợi. B́nh đá nhỏ dạng h́nh cầu, chia thành hai phần thượng hạ. Nữa phần trên có h́nh tay cầm, khắc niên đại của vua A-dục bằng lối văn tự Brahmī, và người ta đă đọc được nội dung của nó như sau: “Đây là xá-lợi của Đức Phật. Phần xá-lợi này do bộ tộ Śākya, nước Śrāvastī phụng thờ”. Kết quả của việc khảo cổ này đă chứng minh những ǵ được ghi lại trong Kinh Trường A-hàm và rải rác ở những kinh khác về việc phân chia xá-lợi của Phật thành tám phần cho tám quốc gia cổ đại Ấn Độ sau khi Phật nhập niết-bàn là hoàn toàn sự thật.
Kinh ghi: “Sau khi Đức Thích tôn nhập niết-bàn ở rừng Śāla, thành Kuśinagara, xá-lợi của Phật được phân thành tám phần đựng trong tám tháp chia cho tám quốc gia phụng thờ, tháp thứ chín là cái b́nh, tháp thứ mười là tháp tro, tháp thứ mười một là tháp tóc, thờ tóc Thế Tôn khi c̣n tại thế (Trường A-hàm, kinh Du hành).
Theo Bồ-tát xử thai kinh, quyển 3, phẩm Vô thường, xá-lợi có hai loại: Toàn thân xá-lợi và toái thân xá-lợi. Toàn thân xá-lợi là sau khi chết, toàn thân không bị thối rữa, tự nhiên khô cứng lại thành thân kim cương bất hoại. Toái thân xá-lợi là một phần c̣n lại của cơ thể sau khi hỏa táng.
Theo Dục Phật công đức kinh th́ di cốt của Phật gọi thân cốt xá-lợi, c̣n giáo pháp của Phật thuyết gọi là pháp thân xá-lợi. Những xá-lợi này sẽ hiển thị sau khi Đức Phật diệt độ, giáo pháp và giới luật của Phật thuyết sẽ tồn tại măi ở thế gian, làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh.
Theo Pháp uyển châu lâm, quyển 40 th́ xá-lợi có ba loại: Xá-lợi xương màu trắng, xá-lợi tóc màu đen, nhục xá-lợi màu đỏ.
Từ xưa đến nay, tín đồ Phật tử vẫn thường lưu truyền và lễ bái ba loại xá-lợi của Phật là xá-lợi đảnh đầu, xá-lợi răng và xá-lợi ngón tay.
Kinh Kim quang minh, quyển 4, phẩm Xả thân, ghi rằng: “Xá-lợi là kết quả của quá tŕnh huân tu giới, định, tuệ, rất khó đạt được, cho nên nó là ruộng phước điền tối thượng”.
Luận Đại trí độ, quyển 59, nói: “Cúng dường xá-lợi Phật, cho dù nhỏ như hạt cải, cũng được phước báo vô lượng vô biên”. Luận này cũng cho biết, xá-lợi là kết quả tu tập sáu pháp ba-la-mật mà thành.
Tựu trung, xá-lợi là kết quả tự nhiên của quá tŕnh tu tập giới, định, tuệ và đạt được giải thoát. Tuy nhiên, quán sát hành động của chư Phật, chư Bồ-tát, chư vị Tổ sư… th́ xá-lợi được trang nghiêm bằng sự đại dơng mănh, phát ra sự đại thệ nguyện và tăng cường tâm ḿnh bằng sự đại từ bi, để bảo vệ chánh pháp và cứu độ chúng sanh.

Sage parfait        Chánh biến tri        正遍知    Samyak-sambuddha
Samyak-sambuddha (Sage parfait, Shohenchi, 正遍知). Un des dix titres honorifiques du Bouddha. Littéralement Celui qui est "complètement et parfaitement éveillé". Celui qui voit au delà des apparences la triple vérité des phénomènes Sa perfection le distingue des pratyekabuddha qui gardent leur Eveil pour eux-même, sans chercher à sauver les êtres.



  Cái biết cùng khắp không gian thời gian chẳng có năng sở đối đăi, tức là cái biết bản thể Phật tánh, khắp thời gian th́ chẳng sanh diệt, gọi là Niết Bàn; khắp không gian th́ chẳng khứ lai, gọi là Như Lai.

Sagesse        Bát nhă    Wisdom    般若    prajñā
Le terme signifie à l’origine « capacité cognitive » ou « savoir-faire ». Il désigne dans le bouddhisme la capacité de percevoir le phénomène de coproduction conditionnée, ainsi que l’absence de soi propre (anatta) et le vide (sunyata) de toute chose. C’est une perception aiguë qui permet d’atteindre la « sagesse transcendantale ».

  Dịch ư là tuệ, trí tuệ, minh, hiệt tuệ (tuệ sáng). Tức là trí tuệ chân thực nhờ tu tâm chính đạo và quán chiếu (nh́n sâu) vào các pháp mà có. Trí tuệ cao sâu, thấy suốt hết thảy sự vật và đạo lư.

Sagesse, Sapience        Tuệ    Wisdom    慧    Prajñā, jñāna
Sagesse, discernement, compréhension; le pouvoir de discerner les choses et leurs principes sous-jacents et de décider les hésitants. Il est souvent compris comme la connaissance, mais pas correctement, car connaissance veu dire lla science de la phénoménale, tandis que Sagesse se réfère plus généralement à des principes ou des moralités.

  Cũng đọc là Huệ. Âm Hán đọc là Bát nhă.
1. Trí sáng. Lanh lẹ, sinh ra đă có tính sáng láng hơn người gọi là tuệ căn 慧根, có trí sáng láng chứng minh được pháp gọi là tuệ lực 慧力, lấy trí tuệ làm tính mạng gọi là tuệ mệnh 慧命, lấy trí tuệ mà trừ sạch được duyên trần gọi là tuệ kiếm 慧劍, có con mắt soi tỏ cả quá khứ, hiện tại, vị lai gọi là tuệ nhăn 慧眼.
2. Chỉ riêng cho Trí bát nhă: Một thứ trí tuệ thấy rơ thực tướng của các pháp (thấy rơ 5 uẩn là không), tỏ ngộ được tự tính, thấy được tự tâm, đạt đến giác ngộ giải thoát, vượt qua tất cả mọi khổ đau ách nạn.

samadhi du compter-du-souffle        Số tức quán    breath counting meditation    數息觀    ānāpāna-smṛti
Pratique méditative qui prépare l'entrée dans la samadhi en comptant chaque souffle ; anapana signifie souffle, smriti désigne la mémoire.


  Phương pháp thiền quán niệm hơi thở. Hành giả ngồi ngay thắng, để tâm vào hơi thở ra, vào. Để dễ thực tập, một hơi thở vào, ra, đếm một, cho đến mười, rồi từ mười đếm trở lại một. Phương pháp này rất đơn giản, nhưng mang lại hiệu quả rất lớn, giúp hành giả giảm bớt sự căng thẳng, lấy lại tinh thần và năng lượng cho cơ thể.

samadhi du lieu des Sens infinis        Vô lượng nghĩa xứ tam muội    The anantanirdeśapratiṣṭhāna samādhi    無量義處三昧    anantanirdeśapratiṣṭhāna-samādhi
Samadhi de Shakyamuni avant qu'il n'enseigne le Sutra du Lotus. Littéralement, ananta signifie "illimité", "infini", nirdesha signifie "description", "élucidation" et pratishthana désigne une base, un appui. Le Sutra des Sens Infinis qui sert de prologue au Sutra du Lotus dit : "Ces significations infinies sont soutenues par un Dharma simple".


  Tam muội mà đức Phật đă vào khi Ngài muốn nói kinh Pháp hoa. Vô lượng là rất nhiều pháp môn tu tập, tức vô lượng nghĩa; Nghĩa xứ là chỗ nương của vô lượng nghĩa, tức Thực tướng. Tam muội Tược tướng vô tướng là chỗ sinh ra vô lượng pháp nghĩa, gọi là Vô lượng nghĩa xứ tam muội.

Sans effort        Vô công dụng    Without effort    無功用    An-ābhoga
En Pali, an-ābhoga, signifie ne plus avoir besoin de faire l'effort car l'effet est devenu bien évident. Signifie aussi ne plus avoir besoin d'utiliser le corps, le langage et l'idée pour saisir et comprendre la doctrine du bouddhisme d'une façon sûre et efficace.

  Hay Vô công, Phạn an-ābhoga, dịch ư là không cần dụng công nữa, tức là không cần phải tạo tác thêm nữa, v́ đă có tác dụng tự nhiên. Cũng có nghĩa là không cần mượn thân, khẩu, ư mà vẫn có thể nắm vững nguyên tắc của đạo một cách tự tại. Từ Bồ-tát Bát địa trở xuống, mặc dù ở trong cảnh giới Chân như, nhưng chưa được tự tại. Từ Bồ-tát Bát địa trở lên, v́ đă thuần khiết vô lậu, nên rất tự tại, gọi là Vô công dụng đạo. Lại nữa, từ Bát địa trở lên đă nắm vững Vô công dụng trí, tự tại lợi sanh, gọi là Vô công dụng địa. Tuy nhiên, nếu căn cứ quả vị Phật mà nói, th́ từ Bát địa trở lên vẫn c̣n thuộc Hữu công dụng, chỉ có quả vị Phật mới là Vô công dụng.

Sans perturbation mentale        Vô lậu        無漏    Anāsravaḥ
Jour et nuit, les perturbations mentales, issues de l'attachement, la colère etc., suintent sans cesse à travers nos 6 portes sensorielles (yeux, oreilles, nez, bouche, corps et pensée). Elles sont capables de nous faire tomber dans les 3 mauvais mondes

  Lậu là ṛ rỉ, tên khác của phiền năo. Các phiền năo tham, sân... ngày đêm từ cửa của 6 căn mắt, tai... ṛ rỉ ra không ngừng. Lậu cũng có nghĩa là rơi rớt, lọt xuống, phiền năo có khả năng khiến cho con người lọt xuống 3 đường ác, cho nên gọi là Lậu. Các pháp thanh tịnh, xa ĺa phiền năo nhiễm ô, được gọi là Vô lậu, như Niết bàn, Bồ đề và tất cả pháp có năng lực đoạn trừ phiền năo trong 3 cơi đều thuộc về vô lậu.


Page : 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13