Trang chủ En français Tin tức H́nh ảnh Thơ Văn Âm nhạc
Phật học thường thức
Nguyên tác: Vu Lăng Ba
Việt dịch: Thích Nguyên Hùng

Chương 2
GIẢI QUYẾT MỐI NGHI NGỜ


1, Phật giáo không giống đạo thờ thần

Giới nhân sĩ trong xă hội nhận thức sai lầm về Phật giáo luôn cho rằng Phật giáo là mê tín. Đại đa số những người này đều được tiếp nhận nền giáo dục hiện đại, nhưng đối với Phật giáo th́ hoàn toàn không hiểu ǵ, cho nên, khi nói đến Phật giáo, liền vội vàng cho rằng đó là một tôn giáo mê tín. Sự thật th́, Phật giáo hoàn toàn không mê tín, mà chính không khí mê tín trong xă hội đă bao trùm, len lỏi vào trong sinh hoạt của Phật giáo, khiến cho nó có sắc thái mê tín.

Một trong những tôn giáo đă tạo ra không khí đó, rồi làm cho nó nhập nhằng khó phân biệt với Phật giáo chính là những đạo thờ thần. Trên thế giới, đất nước nào, dân tộc nào cũng có Thần kỳ, và nó đă có lịch sử rất lâu đời, đất nước Trung quốc cũng không ngoại lệ. Nguyên do h́nh thành tôn giáo này là, vào thời cổ đại, trí thức nhân loại c̣n sơ khai. Đối với các hiện tượng của thiên nhiên, cảm thấy rất thần bí, mơ hồ. Do đó họ cho rằng, chắc chắn có một vị Thần nào đó có oai lực, quyền uy vô song đang cai quản và khống chế nó, v́ vậy, họ cảm thấy rất sợ hăi và hoang mang lo lắng. Để yên tâm, thế là các vị Hoàng thiên, Hậu thổ, Sấm công, Điện mẫu, Sơn thần, Thổ địa, Thuỷ thần, Hà bá… nhất loạt được ra đời và trở thành đối tượng được cung phụng tôn thờ. Họ cho rằng, vấn đề sống chết, thọ yểu, hoạ phước, thiên tai… của con người đều do Thần linh nắm giữ. Thị thần này, nếu ai cung kính cúng dường th́ được phước, ngược lại, ai bất kính xúc phạm th́ bị họa. Người đời v́ muốn cầu phước tránh họa, cho nên đă đem vàng bạc, châu báu (dĩ nhiên là đồ giả!), hoa quả dâng cúng (hối lộ) cho vị thần vui ḷng. Càng về sau, các vị thần càng xuất hiện nhiều hơn. Trong một gia đ́nh ở nông thôn có tín ngưỡng thờ Thần th́ những vị thần của họ gồm có Hoàng thiên, Thổ địa, có Thần cửa, Táo quân, nơi giếng nước có Long vương, coi sóc tiền bạc có Thần tài, chủ quản về điền trạch th́ có Văn xương, thậm chí c̣n có cả đại tiên, chân nhân, nương nương… tất cả đều được đưa lên bàn thờ hết. Kiểu tín ngưỡng như vậy, khiến cho thế gian cơ hồ biến thành một thiên hạ Thần kỳ.

Mục đích của việc kính phụng Thần linh có nhiều, người tiêu cực th́ cầu nguyện được tránh tai họa, người tích cực th́ cầu tài phước. Người tiêu cực th́ cầu nguyện được thần phù hộ ngũ cốc đầy nhà, mọi người b́nh an. Kẻ tích cực th́ cầu nguyện tiêu tai, miễn bệnh, giáng phước ban tài. Kẻ làm quan th́ cầu thăng chức thêm quyền… Nói chung, là những người nhân không gieo nhân thiện mà muốn được quả báo thiện. Nếu thần có linh, sao lại tuỳ theo ư muốn của họ, cầu ǵ được nấy?
Nên biết rằng, mọi hiện tượng trong vũ trụ đều có nhân quả của nó. Muốn cầu ngũ cốc đầy nhà, mùa màng bội thu, th́ phải siêng năng lao động. Muốn cho mọi người được b́nh an, th́ phải thận trọng vệ sinh ăn uống.

Phật giáo không giống như đạo thờ Thần. Đối tượng tín ngưỡng và phụng thờ của Phật giáo là đức Phật. Phật có nghĩa là giác ngộ. Người nào tu tập đạt được giác ngộ và có khả năng giúp cho chúng sanh cũng được giác ngộ như ḿnh, để cả hai cùng đạt được viên măn th́ người đó được gọi là Phật. Dưới quả vị Phật là qủa vị Bồ-tát. Bồ-tát có nghĩa là giúp cho tất cả mọi loài chúng sanh hữu t́nh đạt được giải thoát giác ngộ. Bồ-tát là trên th́ cầu thành Phật, dưới th́ cứu độ chúng sanh. Một khi Bồ-tát tu tập công đức viên măn th́ cũng thành Phật. Ở nước ta, trong những chùa tháp, hoặc trong những gia đ́nh có tín ngưỡng Phật giáo, th́ đối tượng thờ tự có thể là đức Giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, có thể là Giáo chủ Tây phương Cực lạc A Di Đà Phật. C̣n Bồ-tát th́ có: Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Địa Tạng Vương, Di Lặc. Ngoài ra, những cung, những miếu, những quán nào thờ Thiên đế, Thiên hậu, Đại đế, Nương nương, cho đến Chân nhân, Tiên cô… đều không có quan hệ ǵ với Phật giáo hết.

Hơn hai ngàn năm trước đây, đức Thích Ca Thế Tôn đă ân cần căn dặn các đệ tử rằng không được mê tín. Trong kinh Ban Chu Tam Muội, đức Phật dạy: “không được làm những việc của ngoại đạo, không được lễ bái thượng đế, quỷ thần, không được coi ngày tốt xấu”. Lại c̣n nói: “không được bói quẻ, coi xăm, không được dùng bùa chú yếm giải, cũng không được chọn ngày giờ tốt xấu”.
Người đời cúng tế Thần linh, tuy thuộc mê tín, nhưng trong thâm tâm của của họ vẫn c̣n có quan niệm có quỷ thần và nhân quả báo ứng. Cho nên, những người mê tín, là do họ không được thiện tri thức khai mở chánh tín của họ. Người đáng thương nhất chính là những người căn bản không có quan niệm có quỷ thần. Họ không tin nhân quả, không sợ quỷ thần, tha hồ làm những điều thất đức mà không sợ báo ứng. Hạng người này sau khi chết bị đoạ lạc không biết bao nhiêu kiếp mới thoát khỏi tam đồ.

2, Phật giáo không tiêu cực

Hồi nhỏ đọc sách, tôi c̣n nhớ mấy câu thơ này:

Tướng quân đêm tối phải vượt quan
Sĩ chốt năm canh chịu cơ hàn
Trên non, trời mọc, tăng chưa dậy
Xem ra danh lợi chẳng bằng nhàn.


Lúc ấy tôi cảm thấy làm hoà thượng thật tốt, cuộc sống như cánh chim dă hạc tự do tự tại. Cho đến khi tôi quy y Tam Bảo, thường xuyên lui tới với quư thầy mới biết rằng vị thi sĩ nọ đă nhầm lẫn lớn. Nguyên là, những người xuất gia làm thầy tỳ-kheo, phải trải qua cuộc sống rất khắc khổ, tinh tấn, nghiêm trang, tuyệt đối không giống như vị thi sĩ nọ đă viết. Nghĩa là, những người xuất gia, cuộc sống của họ nếu nh́n bên ngoài th́ giống như là tiêu cực, nhưng thực tế bên trong họ rất tích cực và rất dơng mănh.
Tuy vậy, tín đồ Phật giáo vốn lấy từ bi làm gốc, lấy nhẫn nhục làm hạnh. Đối với thanh, sắc, danh, lợi, nói chung ngũ dục lục trần, đều tránh xa. Chẳng giống như người đời, tâm chẳng biết đủ, chỉ biết mong cầu cho nhiều. Điều đó khiến cho một số người tự cho ḿnh là tích cực, tiên tiến càng cho thái độ sống của những người xuất gia là tiêu cực, yếm thế, rồi cho rằng Phật giáo không thích hợp với đời sống xă hội hiện đại, không thể tồn tại trong xă hội cạnh tranh này. Nhưng, Phật giáo có phải thật sự là một tôn giáo tiêu cực và yếm thế hay không? Không, đối với những người có hiểu biết Phật pháp, họ thấy rằng, Phật giáo có tinh thần nhập thế rất tích cực.

Có người hỏi: “Tôi thường thấy những vị hoà thượng hoặc những tín đồ Phật tử chỉ ở trong thâm sơn cùng cốc hoặc trốn trong chùa tụng kinh niệm Phật, chẳng thấy họ tham gia sinh hoạt ǵ cả, vậy mà bảo là tích cực hay sao”? Đây là hạng người chỉ biết một mà không biết hai. Tinh thần của Phật giáo Đại thừa là phổ độ chúng sanh, mà muốn độ chúng sanh th́ trước hết phải học tập phương pháp độ sanh. Ví dụ như có người bị đắm trong nước, bạn có tâm muốn cứu họ, nhưng khổ nổi bạn không biết bơi, th́ tốt hơn hết chỉ nên đứng trên bờ mà kêu cứu. Ngoài ra, có người tuy là biết bơi, nhưng chẳng muốn cứu, họ chỉ khoanh tay đứng nh́n. Bấy giờ nếu có một người vừa có tâm cứu người, lại c̣n biết bơi, người này lập tức nhảy xuống nước th́ có thể cứu người bị đắm đưa lên bờ. Những người đệ tử Phật, không kể là tại gia hay xuất gia, đang ngày đêm tụng kinh niệm Phật kia, là họ đang học tập những kỉ thuật bơi lội đấy.

Không phải là tôi biện hộ cho cuộc sống của những người xuất gia hay Phật tử, mà sự thật là tinh thần cơ bản của Phật giáo vốn như vậy. Đức Thế Tôn nói: “Ta không vào địa ngục th́ ai vào, không chỉ vào địa ngục mà c̣n thường trú trong đó, không chỉ thường trú trong đó mà c̣n trang nghiêm cả cơi địa ngục”. Bồ-tát Địa Tạng cũng nói: “Nếu chưa hết cảnh địa ngục th́ ta thề không thành Phật, chừng nào độ hết chúng sanh ta mới chứng quả bồ đề”. Trong kinh điển Đại thừa ghi: “Không sợ cảnh địa ngục, không cầu được sanh cơi trời, chẳng v́ bản thân ḿnh mà cầu giải thoát”. Đó chính là tinh thần phục vụ không vị ngă của Phật giáo.

Phật giáo không bao giờ đề cao chủ nghĩa cá nhân, sáu pháp lục độ trong Phật giáo đại thừa đă chứng minh điều đó, tuy xem trọng hạnh nhẫn nhục, nhưng sẵn sàng xả thân v́ đạo pháp, đó cũng là ư nghĩa căn bản của Phật giáo. Chẳng hạn khi đất nước bị ngoại xâm, sợ rằng chánh pháp sẽ bị tiêu diệt, lúc ấy nếu dùng phương pháp đàm phán hoà giải không xong, th́ người Phật tử cũng sẵn sàng dũng mănh cầm gương chóng giặc, đánh đuổi ngoại xâm. Trong kinh Nhân duyên tăng hộ có ghi: “Để bảo vệ tính mạng, có thể bỏ của cả; để bảo vệ gia đ́nh, thà bỏ một mạng người; để bảo vệ một thôn làng, thà hy sinh một gia đ́nh; để bảo vệ tổ quốc, có thể hy sinh một thôn làng”. Bị rắn độc cắn vào tay, người tráng sĩ sẵn sàng chặt đứt cánh tay ấy để bảo vệ tính mạng của ḿnh. Đọc đoạn kinh trên, chúng ta thấy tinh thần quả cảm của nó thật mạnh mẽ.

Cái gọi là tích cực mà người đời nói đến không ngoài ư nghĩa chạy theo danh lợi, đắm ch́m trong thanh sắc. C̣n những ai không nghĩ đến bản thân ḿnh, chỉ muốn cứu độ tất cả chúng sanh, trên cầu đại giác, siêng năng tinh tấn, th́ không được gọi là tích cực sao? Đức Thích Ca Thế Tôn trong vô lượng kiếp tu nhân giải thoát đă từng xả bỏ thân mạng ḿnh cho hổ đói. Đời nhà Đường, ngài Huyền Trang v́ muốn cầu chánh pháp đă lặn lội sang Ấn Độ thỉnh kinh, đường đi vạn dặm, vượt suối băng đồi, đi qua sa mạc, thiếu nước thiếu cơm, có nguy cơ bỏ mạng. Vậy mà ngài lập nguyện thà đi về phía Tây một bước mà chết, thề không lùi về phương đông nửa bước để cầu sự sống. Nhị tổ thiền tông, ngài Huệ Khả, khi tham bái sơ tổ Đạt-ma, đứng giữa tuyết chặt đứt cánh tay, tâm không rúng động. Nếu như người đời biết được những sự thật này, th́ c̣n ai cho rằng Phật giáo là tiêu cực, yếm thế nữa hay không?

Trong lục độ ba la mật, th́ tinh tấn độ thuyết minh đầy đủ về tinh thần tích cực của Phật giáo. Lục tổ Huệ Năng nói: “Phật pháp ở trong thế gian, không thể bỏ thế gian này mà có thể t́m cầu giác ngộ ở chỗ khác. Bỏ cuộc đời mà t́m cầu bồ đề th́ cũng giống như đi t́m lông rùa sừng thỏ”. Điều này đă chứng minh đầy đủ tinh thần nhập thế của Phật giáo. Luận Đại Trí Độ, quyển 16, có đoạn ghi: “Xưa có một khu rừng bị cháy, trong rừng có một con chim trĩ, v́ muốn cứu những loài khác trong rừng, đă lao ḿnh xuống nước, nhúng ướt lông vũ, rồi bay đến rủ nước xuống ngọn lửa. Nhưng lửa nhiều nước ít, dù bay đi bay lại nhiều lần, cũng không thể nào dập tắt được lửa. Bấy giờ trời Đế thích thấy vậy liền đến hỏi: “Ngươi đang làm ǵ vậy”? Chim trĩ đáp: “Tôi đang cứu khu rừng này, v́ thương chúng sanh. Rừng này rất rộng, cây cối tốt tươi, lương thực lại nhiều, là nơi ở tốt. Tôi cùng bạn bè, và nhiều loài khác, đều nương nhờ rừng này mà sống. Thân tôi có sức, sao lại biếng nhác, không cứu rừng này”? Trời Đế thích nói: “Ngươi định làm đến bao giờ”? Chim trĩ đáp: “Đến chết th́ thôi”. Con chim trĩ này chính là một trong những tiền thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đó cũng chính là tinh thần không v́ hạnh phúc của bản thân ḿnh mà chỉ v́ hạnh phúc của tất cả chúng sanh. Đó là biểu hiện tối cao tinh thần tích cực nhập thế của Phật giáo!

3, Phật giáo là trí tín, không phải mê tín.

Đại học giả Lương Khải Siêu nói: “Phật giáo là trí tín, không phải mê tín, là nhiều điều thiện không phải chỉ một điều thiện, là nhập thế không phải yếm thế”. Tiên sinh Lương Khải Siêu là người bác cổ thông kim, có địa vị rất cao trong giới học thuật. Những lời ông ta nói đều có căn cứ. Nhưng ông ta đă căn cứ vào đâu? Đương nhiên là trong tam tạng kinh điển của Phật giáo. Phật pháp có năng lực chuyển hoá kẻ mê thành ngộ, chuyển kẻ ngu thành trí, chuyển phàm phu thành thánh. Đối với những người không biết ǵ về Phật pháp, hoặc họ chỉ nghe người ta nói về đạo Phật ở ngoài chợ, ngoài đường, nửa tin nửa ngờ, liền cho đạo Phật là mê tín, th́ những người này chẳng khác nào kẻ mù sờ voi, ếch ngồi đáy giếng.
Trong thực tế, ở thế gian có rất nhiều tôn giáo mê tín. Đó là những tôn giáo tin rằng có một năng lực siêu nhiên nào đó của thần linh hay thượng đế, và họ đă đem cả bản thân ḿnh giao hết cho vị thần linh ấy. Không phải như Phật giáo, đề cao vai tṛ tự lực, mỗi chúng sanh đều có Phật tánh và đều có khả năng thành Phật. Trong khi đó, các tôn giáo khác tin rằng có tha lực, tin rằng loài người do thần linh hay thượng đế cai quản, là chủ tể của loài người. Mọi sự tốt xấu, hoạ phước con người có thể cầu nguyện thần linh phù hộ, ban ân. Những tôn giáo này có thể phân làm hai loại, sơ cấp và cao cấp, hay nguyên thuỷ và tiến bộ.

Trong chương một chúng tôi đă nói qua, rằng loài người vào thuở sơ khai, trí thức chưa mở mang, đối với những hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, như mặt trời làm sao đứng giữa hư không, trái đất làm quay, sấm sét đầy uy lực, thuỷ tai hoả hoạn v.v… đều cảm thấy sợ hăi. Trong cái sợ hăi ấy liền nghĩ ra chắc chắn có một vị thần linh nào đó có đầy đủ quyền năng, uy lực chống chế và điều khiển tất cả thiên nhiên và con người. Đối với vị thần đó, nếu ai trái ư nghịch lời lập tức bị tai ương, hoạn nạn; nếu ai quy thuận tin theo th́ được bảo hộ, ban phước. Từ đó, sự cúng tế cho các thần linh trở thành một việc quan trọng trong đời sống sinh hoạt của loài người, và cũng từ đó, sự cao thấp của các vị thần cũng phát sinh. Tôn giáo này đă có thời phát triển rất cực thịnh, nhất là ở những quốc gia nghèo nàn và lạc hậu, nó có thế lực rất lớn. Nhưng về sau, khi kinh tế phát triển th́ chuẩn mực văn hoá đạo đức cũng phát triển, trí thức loài người tiến bộ, lư trí tăng trưởng, th́ tôn giáo này không c̣n chỗ đứng và dần dần bị mai một.

So với các tôn giáo đa thần tiến bộ, th́ tôn giáo nhất thần là kết quả của sự phát triển trí tuệ nhân loại, khiến cho đại bộ phận nhân sĩ trí thức cảm thấy tôn giáo đa thần không c̣n phụ hợp nữa, nhưng bức màn bí ẩn của vũ trụ - như quá tŕnh biến hóa, sinh diệt của thuở sơ khai vạn vật, cùng với những vấn đề thiết thân của cuộc sống như thọ, yểu, sinh, già, bệnh, chết… th́ xem ra tôn giáo nhất thần vẫn c̣n mơ hồ, chưa thể nào hiểu đến lẽ cùng tận, và thật tế họ vẫn c̣n tin tưởng rằng tất cả mọi sự mọi vật đều vận hành, tuân theo một pháp tắc nhất định nào đó. Từ nhận thức mơ hồ về vũ trụ nhân sinh như thế, những người chủ trương tôn giáo nhất thần chấp nhận có một đấng sáng tạo, chủ thể, chi phối muôn loài, đó là Thượng đế. Thậm chí, cái quan niệm vũ trụ vạn hữu đều do thượng đế sáng tạo nên chính là sự thay đổi từ tôn giáo đa thần tiến dần đến nhất thần. Bà-la-môn giáo của Ấn độ, Gia-tô giáo, Thiên chúa giáo của Do thái, Hồi giáo của Arab đều thuộc loại này. Mặc dù nội dung giáo nghĩa, h́nh thái và nghi thức của các tôn giáo này không giống nhau, nhưng đối tượng sùng bái về một vị thần duy nhất th́ không phải là khác. Tuy nhiên, do tư thưởng của nhân loại tiến bộ, khoa học phát triển đă phủ nhận quan niệm vạn vật do thượng đế sáng tạo, thế giới không phải do thượng đế làm chủ cai quản, mà trong đó có lư trí và tư tưởng của con người, cho nên lư thuyết của các tôn giáo trên đă không c̣n giá trị.
Ngoài các tôn giáo có tín ngưỡng nhờ vào tha lực, c̣n có một tôn giáo duy nhất có tín ngưỡng nhờ vào tự lực, đó chính là Phật giáo. Phật giáo không tin rằng vũ trụ đă được tạo ra bởi thiên chúa hoặc được cai quản bởi ngài. Đối với các hiện tượng sinh diệt, thay đổi của vũ trụ vạn hữu, Đức Thế Tôn Thích-ca nói rằng: “Vạn pháp như thị”. Ư nghĩa của câu nói này là cho rằng các hiện tượng trong vũ trụ có pháp tắc tự nhiên, xưa nay vốn như vậy. Pháp tắc tự nhiên là ǵ? Chính là luật nhân quả. Vạn hữu đều tuân theo quy luật nhân quả tự nhiên. Vạn pháp đều do nhân duyên mà h́nh thành, rồi cũng do nhân duyên mà hoại diệt. Sự h́nh thành và hoại diệt đó đều do nhân duyên tạo nên. Ngay cả sự vận hành của các tinh thể, vào thuở ban đầu, tự trong nó cũng đă có quy luật nhân quả này; san, già, bệnh, chết, giàu nghèo, thọ yểu… tự trong nó đều cũng đều có quy luật nhân quả. Nhân như vậy th́ kết quả phải như vậy, không thể sai dù chỉ một tơ hào. Do đó, các hiện tượng được gọi là tự nhiên, nhất định không phải do thượng đế thưởng phạt, chi phối, và cuộc nhân sinh tao ngộ nhất định không phải do thượng đế sắp đặt.

Người xưa có nói: “hoạ phước không có cửa, chỉ có con người tự t́m đến”. Tự ḿnh làm chủ ḿnh thôi, không có thần, thánh, chúa, phật ǵ làm chủ ḿnh hết, cũng không có ai ban phước giáng họa cho ḿnh hết.

Hơn 2500 năm trước, lúc ngồi dưới cội bồ-đề, khi sao mai vừa mọc, đức Phật Thế Tôn bừng giác ngộ, Ngài liền thốt lên một câu nói hết sức ngỡ ngàng: “Kỳ lạ thay! Kỳ lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều có đầy đủ phẩm chất phước đức và trí tuệ Như Lai, nhưng v́ vọng tưởng chấp trước cho nên không thể chứng đắc; nếu có thể xả ly vọng tưởng th́ nhất thiết trí, tự nhiên trí lập tức xuất hiện”. Phước đức và trí tuệ Như Lai là ǵ? Đó chính là Phật tính - khả tính thành Phật, Phật tính này trong mỗi chúng sanh đều có, và khi giác ngộ, Phật tính này không tăng, khi mê muội làm chúng sanh, Phật tính này cũng không giảm. Nếu mỗi người nương theo giáo pháp Phật dạy mà tu tŕ, chuyển mê thành ngộ, th́ ai nấy đều thành Phật. Nhưng quá tŕnh nương theo pháp để tu tŕ, để chuyển mê thành ngộ, hoàn toàn dựa vào sự nỗ lực của chính bản thân ḿnh chứ không phải nhờ vào thánh thần nào cả.

‘Hết thảy chúng sanh đều có đầy đủ phẩm chất phước đức và trí tuệ Như Lai, nhưng v́ vọng tưởng chấp trước cho nên không thể chứng đắc’, câu này có thể dùng h́nh ảnh chiếc gương soi bị bụi bẩn che mờ để ví dụ, mây mờ vọng tưởng đă che lấp Phật tính của chúng sanh, cho nên mỗi chúng sanh phải tự ḿnh nương theo phương pháp tu tŕ để gột rửa trần cấu nhiễm ô, khôi phục lại bản tánh vốn sáng suốt, đầy đủ phước đức và trí tuệ của ḿnh. Tất cả sự tu tŕ đó đều nhờ vào tự lực, hoàn toàn khác biết với niềm tin của Gia-tô giáo nhờ vào tha lực khi họ cho rằng ‘những người tin chúa sẽ được cứu rỗi’. Người đời không hiểu được đạo lư này nên đă lấy tôn giáo có tín ngưỡng nhờ vào tha lực cho là khoa học, tiến bộ; ngược lại, coi tôn giáo dựa vào tự lực để tu tŕ là mê tín, như vậy há không phải là đổi trắng thay đen, đúng sai chẳng phân biệt hau sao?

Cuối cùng, tôi xin được ghi lại một nhận định của học giả Lương Khải Siêu để kết thúc phần này: “Tôi từng chứng kiến những tín đồ mê tín miệng luôn tuyên bố rằng giáo lư của họ là vi diệu tối thượng, mọi hành vi trong cuộc sống hằng ngày đều nằm trong ṿng kiểm soát và hay biết của đấng tạo hóa, không phải do bản thân con người làm chủ! Nếu đúng như vậy th́ cái tôn giáo này có khác nào luật pháp của chế độ quân chủ chuyên chế? Phật giáo th́ không như vậy! Cương lănh lớn nhất của Phật giáo là đều cao vai tṛ con người và khuyên dạy mỗi cá nhân phải phát huy tinh thần bi trí của ḿnh, từ khi mới phát tâm cho đến khi thành Phật, phải luôn hướng đến một mục đích tối thượng là chuyển mê thành ngộ”.
Thế nào là trí tín? Thế nào là mê tín? Những người trí thức chắc sẽ tự biết lựa chọn !

4, Phật giáo và quốc gia

Phật pháp có pháp thế gian và pháp xuất thế gian, lấy pháp thế gian làm phương tiện quyền xảo độ sanh, lấy pháp xuất thế gian làm mục đích cứu cánh cho đời sống tu tập. Pháp xuất thế gian có Tiểu thừa, Đại thừa. Lấy Tiểu thừa làm tự độ, lấy Đại thừa làm cứu cánh. Đại thừa Phật pháp lấy hạnh Bồ-tát để tu tập đưa Phật pháp vào đời, cứu độ chúng sanh, cho nên, nói cho cùng th́ Phật pháp nằm ở trong thế gian, không thể tách rời cuộc đời này mà có thể tồn tại.

Người không hiểu Phật pháp th́ cho rằng tín đồ Phật giáo sống tiêu cực, yếm thế, không có trách nhiệm với quốc gia, xă hội. Nói như vậy thật vô lư! Phật giáo có bốn chúng đệ tử, đệ tử xuất gia là các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Đệ tử tại gia có Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di (nam nữ Phật tử). Trong số đệ tử tại gia, có đầy đủ thành phần sĩ, nông, công, thương, ai có công việc và chức vụ nấy. Những người này, họ không thể v́ tin theo Phật giáo mà bỏ bê công việc hay ảnh hưởng đến công việc của họ được. Cho đến cả người xuất gia, mặc dù không ai trong số họ lao động sản xuất ra của cải vật chất, nhưng thử nghĩ, trong xă hội, ngoài những người công nhân, nông dân, thương nhân, là những người lao động trực tiếp sản xuất ra, c̣n lại biết bao nhiêu người, bao công việc không trực tiếp lao động sản xuất? Chẳng hạn như giáo viên, luật sư, công chức nhà nước, mục sư, linh mục v.v… đều là những người chẳng cày bừa, dệt vải ǵ hết. Những người này chẳng sản xuất th́ nh́n họ chẳng có vấn đề ǵ, thế th́ tại sao lại trách cứ những người xuất gia? Nên biết rằng, những người xuất gia chẳng phải họ ăn không ngồi rồi suốt ngày. Họ có trách nhiệm hoằng dương Phật pháp, dạy dỗ tín đồ. Xă hội có pháp luật, thế mà chẳng ngăn chặn được tệ nạn xă hội, tội phạm ngày càng nhiều. Trong khi đó, đạo đức tôn giáo, mà chủ yếu là nhờ những người xuất gia, đă cảm hoá được biết bao nhiêu người bỏ ác làm lành, ngăn chặn biết bao nhiêu người đi vào con đường tội lỗi? Đó là pḥng ngừa tội phạm khi nó chưa h́nh thành vậy. Đất nước ta, từ thời Nam Bắc triều, đến đời Tuỳ, đời Đường trở đi, Phật giáo có một mối quan hệ mật thiết với sự thạnh suy của quốc gia. Nh́n vào lịch sử chúng ta sẽ thấy, hễ Phật giáo hưng thịnh th́ đất nước được an b́nh độc lập, giàu mạnh. Hễ Phật giáo suy vi th́ đất nước cũng loạn ly binh biến. Nói một cách tổng quát, giữa quốc gia và Phật giáo có một mối liên hệ hỗ tương nhân quả.

Đức Phật luôn dạy các đệ tử, đối với đất nước phải trung thành, đối với cha mẹ phải hiếu để, đối với con cái phải thương yêu, đối với bạn bè phải giữ chữ tín. Những Phật tử giữ năm giới, hành thập thiện, tu lục độ vạn hạnh, đều là những công dân ưu tú của xă hội, là người tiên phong trong lĩnh vực chấp hành luật pháp. Đó là cơ sở để họ tiếp tục tiến đến con đường xuất thế. Đức Phật thường dạy người Phật tử phải biết đền đáp bốn ân nặng. Bốn ân nặng đó là ân quốc gia, ân cha mẹ, ân chúng sanh và ân Phật. Điều này chứng tỏ Phật giáo không bao giờ quên đi trách nhiệm của ḿnh đối với quốc gia, dân tộc.
Đạo Nho có ngũ thường, dạy cho con người lấy nhân, lễ, nghĩa, trí, tín làm nguyên tắc làm người. Đạo Phật có ngũ giới th́ không sát sanh là nhân, không trộm là nghĩa, không tà dâm là lễ, không uống rượu là trí, không nói dối là tín. Ngay trong pháp thế gian, giữa Nho và Phật đă có sự tương thông rồi.
Khổng Tử nói: “Những ǵ mà ḿnh không ưa th́ đừng nên đem cho người khác”. Trong kinh Tứ bất hoại tịnh thành tựu, Đức Phật dạy: “Giả sử có người muốn giết ta, ta thật sự không muốn bị hạ; nếu như ta không muốn bị hại, th́ người khác cũng như vậy, v́ sao ta lại giết họ? Nghĩ như vậy là giữ được giới sát. Nếu như ḿnh không muốn ai lấy đi của cải của ḿnh, th́ người khác họ cũng không muốn, tại sao ḿnh lại lấy của người ta? Nghĩ như vậy là giữ được giới không trộm cướp. Nếu như ḿnh không muốn ai xâm phạm tới vợ ḿnh, th́ người khác cũng như vậy, tại sao ḿnh lại đi quyến rủ vợ người ta? Nghĩ như vậy là giữ được giới không tà dâm. Nếu như ḿnh không muốn ai khinh chê ḿnh, th́ người khác cũng như vậy, tại sao ḿnh lại khinh chê người ta? Nghĩ như vậy là giữ được giới không vọng ngữ”. Đoạn kinh này há không phải đă vô t́nh giải thích câu nói “Những ǵ mà ḿnh không ưa th́ đừng nên đem cho người khác” hay sao?

Đức Thế Tôn thường căn dặn ngài A Nan rằng: “Này A Nan, những ai đă thọ giới cấm của chư Phật th́ hăy thành tín mà giữ ǵn. Phải cẩn trọng hiếu dưỡng mẹ cha, kính trọng Tam bảo, tâm ư và hành động phải tương ưng, lời nói và ư nghĩ phải đi đôi với nhau”. Lại nói: “Đă là đệ tử (tại gia) của Phật th́ cũng có thể buôn bán, lao động để có sự nghiệp giàu có, nhưng phải làm ăn chân chính, không được hại người”. Nói tóm, đă là đệ tử của Phật th́ phải trung – hiếu – thành – kính, cẩn trọng giữ ǵn chữ tín; là đệ tử của Phật th́ phải chí thú làm ăn, phát triển sự nghiệp, nhưng phải bằng khả năng lao động của ḿnh, không được v́ tham giàu có mà hại người. Như vậy, thử nh́n lại, Phật giáo có hại ǵ cho xă hội không?

Đạo pháp và dân tộc vốn có một mối quan hệ mật thiết với nhau. Vơ lực của quốc gia dùng để chống giặc ngoại xâm, duy tŕ trật tự xă hội. Sự cảm hoá của tôn giáo dùng để khuyến thiện, bỏ ác, an định nhân tâm. Cho nên, có người từng nói: “Chính trị chỉ thay đổi được bên ngoài, tôn giáo mới thay đổi được cái tâm của con người. Tôn giáo có thể hỗ trợ cho chính trị, chính trị bảo vệ tôn giáo”. Câu nói này cho thấy, tôn giáo và chính trị là hai yếu tố nền tảng để duy tŕ và an định xă hội. Tuy nhiên, mặc dù nói như vậy, nhưng tôn giáo và chính trị phải cùng hướng đến một mục tiêu th́ mới có tác dụng hỗ tương nhau. Trung Quốc giữ được cơ nghiệp ngàn năm của tổ tiên là v́ trong nước có trung thần, trong gia đ́nh có con chí hiếu. V́ vậy, Phật giáo đă phối hợp giảng dạy về đạo lư trung hiếu, mới khiến cho cả dân tộc và đạo pháp đều hưng thịnh. Hiện nay, có những tôn giáo dạy cho tín đồ chỉ biết có giáo hội, có thượng đế, không biết có quốc gia, có cha mẹ. Những tôn giáo này trong quá khứ đă chia thành hai phe Tân ước và Cựu ước, đánh chém lẫn nhau đẫm máu hơn 30 năm, khiến hàng ngàn hàng vạn người bỏ mạng. Đó là hành động bất trung bất hiếu. Những tôn giáo này đối với hoàn cảnh xă hội và truyền thống văn hoá của người Trung Quốc hoàn toàn không thích hợp.

5. Đạo Phật và nhân sinh

Phật pháp là siêu xuất thế gian nhưng lại thích ứng với thế gian, cho nên khi đức Thế Tôn thuyết pháp, ngài luôn giáo dục người Phật tử tại gia phải biết hiếu thuận cha mẹ, thuận thảo với người thân, bạn bè, làng xóm. Trong kinh Vô lượng thọ, đức Phật có dạy: “Cha con, anh em, vợ chồng trong gia đ́nh, cho đến nội ngoại thân thuộc, phải thường thương yêu, kính trọng và giúp đỡ lẫn nhau, trên kính dưới hoà, lời nói và sắc mặt phải luôn dịu dàng và tươi vui, đừng nên gắt gỏng, cau có”. Những bậc tượng quân chánh pháp thời hiện đại như Thái Hư Đại sư, Ấn Quang Đại sư, cũng thường giáo dục cho đệ tử rằng muốn học Phật phải học làm người trước. Đại sư nói: “Muốn học làm Phật, làm Tổ, trước hết phải giữ pháp thánh hiền. Nếu như đức hạnh c̣n khuyết điểm, đạo luân thường c̣n sai lầm, làm người c̣n mang tiếng là tội nhân trong thiên hạ th́ làm sao mà làm người Phật tử được”? Do đó, có thể thấy được rằng đạo Phật rất coi trọng luân thường đạo lư, giống như đạo Nho không khác.

Nho giáo nói đến Ngũ thường đó là: “vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè”, là nói đến mối quan hệ tương đối giữa người với người trong thế gian. Trong cuốn Cư sĩ Đinh Phúc Bảo, Đại sư Ấn Quang có nói: “trong một việc học Phật đă bao hàm tất cả các đạo lư làm người, v́ rằng Phật giáo đă bao quát tất cả các pháp thế và xuất thế gian. V́ vậy, phải thực hiện đầy đủ bổn phận đạo làm người, như cha phải có ḷng từ, con phải có hiếu, rồi sau mới tu học pháp xuất thế”. Lại nói: “người tu pháp môn niệm Phật, trước hết phải hiếu thuận cha mẹ, phụng sự thầy tổ, ḷng từ không sát, tu mười nghiệp thiện. Lại c̣n phải làm tṛn các bổn phận cha từ con hiếu, anh em thương yêu đùm bọc lẫn nhau, vợ chồng hoà thuận, người chủ phải nhân từ, kẻ tôi tớ phải trung thành”. Như vậy, không phải chỉ riêng Đại sư Ấn Quang cùng với các thầy Tỳ kheo đă nói và làm như đạo Nho, mà trong kinh điển đă được đức Thế Tôn nói cách đây hơn hai thế kỷ, cũng chỉ dạy cho các đệ tử thực hành cái nguyên tắt làm người như thế.

Đạo Phật rất coi trọng đạo hiếu. Trong kinh Thiện Sanh, đức Thế Tôn đă chỉ dạy cho chúng ta bổn phận làm con phải phụng dưỡng cha mẹ như thế nào: “Một là, phải cung cấp vật dụng không để cha mẹ thiếu thốn. Hai là, muốn làm việc ǵ trước phải thưa cho cha mẹ biết. Ba là, cha mẹ muốn làm việc ǵ phải thuận theo không được trái. Bốn là, cha mẹ làm việc chính đáng không được ngăn cản. Năm là, không được ngăn cản cha mẹ làm chính nghiệp”.

Trong kinh Đại Bảo Tích, đức Phật dạy: “Phàm là kẻ làm cha làm mẹ, v́ muốn con được an lạc, hạnh phúc, cho nên dù việc khó làm cũng gắng làm, những điều khó nhẫn đều cam tâm nhẫn chịu. Chẳng hạn như phải giặc giũ, lau dọn những đồ bất tịnh, ô uế. Cho con bú mớn, bồng bế, nuôi nấng lớn khôn mà tâm không hề mệt mỏi”. V́ vậy, trong kinh Tứ thập nhị chương, đức Thế Tôn dạy:

“Phàm làm những việc cung phụng trời đất quỷ thần chẳng bằng hiếu kính với cha mẹ của ḿnh, cha mẹ là vị thần lớn nhất”. Hiếu là điều căn bản của tất cả mọi luân lư. Nếu như một người bất hiếu với cha mẹ, th́ đối với quốc gia cũng sẽ là người bất trung, đối với bạn bè cũng sẽ là người bất nghĩa. Ông bà ta có câu: “T́m người trung thần từ gia đ́nh có con hiếu thảo”, thật là chí lư!

Bổn phận con cái đối với cha mẹ th́ như trên đă tŕnh bày. Thế bổn phận của cha mẹ đối với con cái ra sao? Trong kinh Thiện Sanh, đức Phật dạy: “một là, khuyên con không làm việc ác. Hai là, khuyên con làm việc thiện. Ba là, thương yêu con đến tận xương tuỷ. Bốn là, dựng vợ gả chồng cho con cái. Năm là, tuỳ thời mà cung cấp vật dùng cho con cái”. Trong xă hội ngày nay, bậc làm cha mẹ chỉ làm được ba điều sau trong năm điều trên, làm được cả hai điều trước nữa th́ rất ít. Như vậy, hỏi tại sao thân thiếu niên ngày nay không phạm tội?

Cũng trong kinh Thiện Sanh, đức Phật c̣n dạy cách đối xử giữa vợ chồng, bạn bè, chủ tớ. Dưới đây sẽ tóm lược tŕnh bày để các bạn tham khảo:

Chồng đối với vợ: “Một là, lấy lễ đối với nhau. Hai là, phải giữ uy nghiêm, không suồng să. Ba là, cho vợ ăn mặc tuỳ thời. Bốn là, cho vợ trang điểm, trang sức hợp thời. Năm là, giúp vợ làm việc nhà”.
Vợ đối với chồng: “Một là, nên dậy trước chồng. Hai là, nên ngồi sau chồng. Ba là, nói lời ôn hoà. Bốn là, kính thuận với nhau. Năm là, biết ư của chồng”.

Trong kinh Tịnh Hạnh Pháp Môn Đức Phật c̣n khuyên người phụ nữ nên: “Phụng dưỡng cha mẹ, giúp công việc cho chồng, nuôi dạy con cái”.

Về các mối quan hệ với thân hữu, bà con, trong kinh có nói: “Một là sẵn sàng giúp đỡ, hai là nói lời ngay thẳng, ba là tôn trọng lợi ích, bốn là hợp tác cùng có lợi, năm là không khinh chê”. Đáp lại, bà con thân hữu nên: “Một là khuyên nhau làm ăn, không nên lười biếng. Hai là khuyên giữ ǵn tài sản, chớ nên phung phí. Ba là đề pḥng và giúp nhau khi gặp nguy hiểm. Bốn là khuyên nhau hướng thiện. Năm là khích lệ lẫn nhau”.

Về mối quan hệ giữa người làm chủ với người làm thuê, Đức Phật dạy: “Một là giao công việc đúng khả năng của họ. Hai là chế độ ăn uống đúng mức. Ba là chế độ nghỉ ngơi thích hợp. Bốn là thuốc thang khi tật bệnh. Năm là cho nghỉ hưu đúng tuổi”. Đáp lại, người làm thuê nên: “Thức dậy sớm, làm việc chu đáo, không cất giấu cho riêng ḿnh, làm việc thứ tự ngăn nắp, giữ danh tiết cho chủ”.
Bối cảnh thời đại của chúng ta đă thay đổi, mối quan hệ giữ người chủ và người làm thuê dĩ nhiên không giống như hai ngàn năm trước đây, nhưng những nguyên tắc làm người, cách đối nhân xử thế mà Đức Phật đă dạy trên đây cho thấy vẫn c̣n nguyên giá trị của nó.

Ngoài những đạo lư luân thường trong các mối quan hệ, Đức Thế Tôn c̣n dạy cho chúng ta phải biết cách chi tiêu hợp lư, cách làm chủ cuộc sống, chú trọng vệ sinh… Kinh Thiện Sanh ghi: “Trước hết phải học nghề cho giỏi, sau mới có công ăn việc làm và có thu nhập”. Kinh Tạp A-hàm ghi: “Trước hết phải học nghề cho thạo, sau đó t́m kiếm việc làm và giành dụm tài sản. Khi đă có tài sản rồi th́ nên chia làm bốn phần. Một phần để trang trải cuộc sống, một phần thêm vào vốn đầu tư. C̣n lại một ít để giành, và một ít đem bố thí”.

Về phương diện vệ sinh, y học, Đức Thế Tôn dạy rằng, con người sở dĩ có bệnh tật là bởi những nguyên nhân sau: “Thứ nhất là không biết chọn thức ăn, thứ hai là không có kiến thức y học, thứ ba là lo buồn nhiều quá, thứ tư là thường hay nỗi giận, thứ năm là không có ḷng từ bi, ghét người có bệnh”. Nếu có thể loại trừ được những nguyên nhân trên th́ tự nhiên ít mắc bệnh tật. Nhưng nếu đă mắc bệnh rồi th́ phải làm sao? Đức Phật dạy: “Thứ nhất, bệnh nhân phải thay đổi thức ăn cho phù hợp cơ thể; thứ hai, ăn uống đúng giờ và phù hợp theo thời tiết; thứ ba, theo dơi sức khoẻ; thứ tư, không nên lo âu, buồn phiền; thứ năm, phát khởi ḷng từ bi, thương người bệnh tật”.

Chúng ta thấy những kinh văn nêu trên hết sức b́nh dị nhưng cũng vô cùng thiết thực, mỗi lời mỗi chữ đều là chân lư được Đức Phật giảng dạy cả mấy ngàn năm trước. Đạo Phật và nhân sinh có một mối quan hệ hết sức đặc biệt, từ các pháp thế gian trong cuộc sống cá nhân, gia đ́nh, xă hội, đất nước… cho đến các pháp xuất thế gian như Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Lục độ vạn hạnh… không một pháp nào thiếu, ngược lại nó quá ư đầy đủ, quá cao thâm, quá viên dung, quá rộng lớn… thử hỏi làm sao không khiến chúng ta phải gieo năm vóc xuống đất để đảnh lễ và quy y cho được?

Phật học thường thức

Vu Lan
Tịnh Độ
Phật pháp căn bản
Phật đản
Lời Phật dạy
Chuyện đời - Chuyện đạo


Phật pháp căn bản
Phật pháp căn bảnện đạo TĂNG N

Chuyện đời - Chuyện đạo
Chuyện đời - Chuyện đN

Phật pháp căn bản
Phật pháp căn bảnaTE ULLAMBANA3;̐

Chuyện đời - Chuyện đạo
Chuyện đời -

Chuyện đời - Chuyện đạo
Chuyện đời - Chuy&#

Chuyện đời - Chuyện đạo
Chuyện đ

Phật pháp căn bản
Phật pháp căn bảnện &

Phật pháp căn bản
Phật pháp căn bản0;I XƯA841

Phật pháp căn bản
Phật pháp căn

Phật pháp căn bản
Phật pháp căn bản0;I XƯA73;ạo#432;

Phật pháp căn bản
Phật pháp căn bản0;I XƯ

Phật pháp căn bản
Phật pháp căn bản0;I XƯA&#

Chuyện đời - Chuyện đạo
Chuyện đời

Phật pháp căn bản
Phật pháp căn bản Công

Chuyện đời - Chuyện đạo
Chuyện đời - Chuyện đạo
Website: http://chuavanhanh.free.fr
Email: chuavanhanh@free.fr