Trang chủ En français Tin tức H́nh ảnh Thơ văn Âm nhạc
Kê Phong Tục Diệm
Nếu như dăy Himalaya (Hy mă lạp sơn) hùng vĩ với hơn 40 ngọn núi cao trên 7000m, được người ta biết đến với cái tên gọi nên thơ là “Lâu đài tuyết trắng” hay “Bông sen trắng vĩ đại”, bởi nó sừng sững giữa ngàn mây, quanh năm băng tuyết phủ trắng ngần, án ngữ theo một ṿng cung dài suốt 2.600km về phía Bắc tạo nên bức tường thành đồ sộ, một pháo đài kiên cố, ngăn cách Ấn Độ với phần c̣n lại của Á châu lục địa, th́ dăy Kukkutapada (Kê Túc sơn), nằm ở niềm Trung Ấn Độ, lănh thổ của quốc gia Magadha (Ma kiệt đà) xa xưa, có thành Vương Xá ở đó, được người Phật tử biết đến với nhiều truyền thuyết ly kỳ về sự truyền thừa mạng mạch Phật pháp, nơi ẩn chứa y bát cho vị Phật tương lai mà người ǵn giữ nó là sơ Tổ Ma ha Ca Diếp.

Theo Đại đường tây vực kư, quyển 9, th́: “Sông Mạc-ha chảy về phía đông, xuyên vào rừng sâu, qua hơn trăm dặm, đến núi Quật-quật-tra-bàn-đà, người dân địa phương gọi núi ấy là Kê Túc, hoặc núi Quật-lô-đá-bà” (ĐCT 51, kinh số 2087, [0919b24], bản điện tử). Sở dĩ núi mang tên ấy v́ có ba ngọn núi h́nh dáng như chân gà nên được gọi là Kê Túc sơn hay Kê Phong.

Tương truyền, Kê Phong là chỗ ẩn thân của sơ Tổ Ma ha Ca Diếp. Cảnh đức truyền đăng lục, quyển 1 (ĐCT 51, kinh số 2076, [0206b05], bản điện tử), Ngũ đăng toàn thư, quyển 1 (Tục tạng chữ Vạn 81, kinh số 1571, [0405c21], bản điện tử) ghi: “Nói xong kệ, Ngài bèn cầm Tăng già lê vào núi Kê Túc". Đó là bài kệ truyền pháp cho nhị Tổ A Nan, diễn ra ngay sau khi kết thúc đại hội kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại thành Vương Xá, trong hang Pippala (Thất diệp). Bài kệ đó là:

Pháp pháp bổn lai pháp
Vô pháp vô phi pháp
Hà ư nhất pháp trung
Hữu pháp hữu bất pháp.

Tạm dịch:

Vạn pháp xưa nay vậy
Chẳng có cũng chẳng không
V́ sao trong pháp ấy
Lại phân biệt có, không?


Nói xong bài kệ ấy Tôn giả Ma ha Ca Diếp cầm y bát của ba đời chư Phật đi vào núi Kê Túc. Từ đó, nhân vật lịch sử đại Đầu đà Ca Diếp hiện hữu trong ḷng người Phật tử như một nhân vật huyền thoại. Người ta nói rằng, Ngài nhập diệt trong núi ấy. Nhưng cũng có người tin rằng, Ngài chỉ vào đó ẩn thân để chờ đức Di Lặc ra đời, nhằm hoàn thành sứ mạng cao cả của ba đời chư Phật giao phó, là trao y bát cho vị Phật tương lai. Rất nhiều truyền thuyết kể rằng đă có người tận mắt nh́n thấy Tôn giả ḿnh hạc xương mai chóng gậy lướt gió dạo chơi trong núi! Hơn thế nữa, có người c̣n được Tôn giả khai thị. Chẳng ai phủ định vấn đề ấy, v́ ai cũng tin rằng trong cơi mênh mông hư thực này, không có chuyện ǵ là không xảy ra. Người ta tin chắc rằng, chuyện Tôn giả vào núi là có thực. V́ vậy, để tỏ ḷng tôn kính, triều đại nhà Đường đă gọi núi ấy là Tôn Túc. Chưa hết, người dân Trung Quốc c̣n “đem” luôn ngọn núi ấy về xứ ḿnh. Đó là ngọn núi thuộc huyện Tân Xuyên, tỉnh Vân Nam, nằm cách trung tâm huyện hơn 50km về phía tây bắc. Núi non nhấp nhô giống như 9 cánh hoa sen, nên gọi là “cửu trùng nham sơn”. Đỉnh bằng hướng về nam, 3 hướng c̣n lại mỗi hướng đều có một nhánh núi giống như bàn chân gà các ngón toẻ ra nên gọi là Kê Túc sơn. Trên đỉnh núi có “Ca Diếp thạch môn động thiên”, tương truyền là nơi Ma ha Ca Diếp giữ ǵn y bát của Phật để chờ đức Phật Di Lặc, nên núi này cũng được xem là đạo tràng của Tổ Ma ha Ca Diếp, là trung tâm Phật giáo Vân Nam nên chư tăng tụ tập rất đông. Thời Tam Quốc có dựng am nhỏ, đến đời Đường mở rộng thêm. Lúc hưng thịnh có hơn trăm ngôi tự viện lớn nhỏ, trong ấy có năm ngôi lớn nhất là Thạch Tông, Tất Đàn, Đại Giác, Hoa Nghiêm, và Truyền Y. Ngoài ra các chùa khác như Tịch Quang, Chúc Thánh, cũng khá quy mô (theo Phật Quang từ điển).

Cho dù Kê Túc ở tận miền trung Ấn Độ hay đă “dời” về Trung Hoa, th́ đối với lịch sử Phật giáo, nó vẫn là ngọn “Kê phong tục diệm”, truyền thừa ngọn đèn thiền, khởi đầu là Ca Diếp, cho đến Đạt Ma. Rồi từ Đạt Ma đến Huệ Năng. Rừng thiền từ Huệ Năng trở đi là một minh chứng hùng hồn cho sự truyền thừa bắt đầu từ ngọn Kê Túc ấy. Ngũ Đăng Hội Nguyên, quyển 18, Tuyền Châu Nam Phong Vĩnh Tŕnh thiền sư, ghi: “Bắt đầu từ Ca Diếp, thiếu thất để lại tiếng thơm, trải khắp đám mây từ bi, mở rộng mặt trời trí tuệ”. [thỉ tự kê phong tục diệm, thiếu thất lưu phương, đại bố từ vân, hoằng khai tuệ nhật] (Tục tạng chữ Vạn 80, số 1565, [0370a18], bản điện tử).

Quả vậy, Kê Túc đă nở ra 28 con “gà”, mà con “gà” thứ hai mươi tám lại là con “gà vàng” (Kim kê). Cảnh đức truyền đăng lục, quyển 6, Hoài Nhượng thiền sư, đời thứ nhất: “Tây thiên Bát Nhă Đa La, ghi về Đạt Ma rằng: ‘Chấn Đán tuy rộng, nhưng không có con đường nào khác, phải đi dưới chân con cháu. Gà vàng thả xuống một hạt thóc, cúng dường La hán tăng mười phương”. (Đại chính tạng 51, Sử truyện bộ 3, kinh số 2076, [0245c23], bản điện tử). Chấn Đán chính là Trung Hoa. Tổ Bát Nhă Đa La đă tiên liệu, sau này con “gà vàng” Đạt Ma mang hạt thóc từ ngọn Kê Phong sang Trung Hoa, tuy đất rộng mà chẳng có lối đi, phải quay mặt diện bích suốt chín năm trời! Vậy mà hạt thóc ấy không hề hư hao, lại c̣n sinh sôi nảy nở, đơm bông cúng dường mười phương La Hán tăng không hết. Học tṛ của Lục tổ Huệ Năng có hai thiền sư là Nam Nhạc và Thanh Nguyên. Từ Nam Nhạc lại có Mă Tổ ở Giang Tây. Từ Thanh Nguyên lại có Thạch Đầu ở Hồ Nam. Nhờ hai sư này, thiền pháp tràn đầy thiên hạ. Đó là con cháu của Ngài sô tổ Đạt Ma. Và gọi đó là con gà Tây Thiên ngậm tới một hạt thóc cúng dường La Hán tăng mười phương.

Từ “Gà vàng” vốn được lấy từ truyền thuyết “Kim kê tinh”, một ngôi sao ở trên trời, sau này nó biến thành thuật ngữ nhà thiền. Tương truyền, mỗi khi con gà này ở trên thiên đ́nh báo sáng, th́ những con gà ở hạ giới cũng gáy theo. Tổ đ́nh sự uyển, quyển 5 (Tục tạng chữ Vạn 113, 67 trên), ghi: “Nhân gian vốn chẳng có từ gà vàng, v́ đó là một loài gà ở trên trời! Mỗi khi gà vàng trên trời báo sáng, th́ mấy chú gà dưới nhân gian cũng gáy theo” (Phật Quang từ điển).

Chẳng biết con “gà vàng” trên thượng giới c̣n nhớ báo thưùc hay không, nhưng trong rừng thiền, từ khi con “gà vàng” mang theo hạt thóc từ đỉnh Kê Phong sang Đông độ, không biết bao nhiêu lần trong rừng thiền ấy đă cất tiếng gáy vang, chấn động cả thiên giới!

Hỏi: Không tu giới định tuệ, làm sao thành Phật?

Đáp: Gà vàng chuyên báo thức. (Đại chính tạng 51, kinh số 2076, Sử truyện bộ 3, Cảnh đức truyền đăng lục, q.13, [0302b02])

Hỏi: Lúc gà vàng chưa gáy th́ như thế nào?

Đáp: Chẳng nghe âm thanh ǵ cả.

Hỏi: Sau khi gà gáy th́ sao?

Đáp: Ai cũng biết giờ. (Đại chính tạng 51, kinh số 2076, Sử truyện bộ 3, Truyền đăng lục q.15, [0319a02])

Thật là:

Từ đỉnh Kê Phong
Gà vàng ngậm thóc
Nhảy vào phương Đông
Đơm hoa “năm cánh”.

Văn học Phật giáo

Xuân
Tuỳ bút
Truyện ngắn
Thơ Tuệ Thanh
Thơ Tuệ Quán
Thơ Tuệ Nhẫn
Thơ Tuệ Nguyên - Thích Thái Ḥa
Thơ Thích Nguyên Hùng
Thơ Thích nữ Tâm Nghĩa
Thơ Thích Đồng Ngộ
Thơ Thân Dũng Xuất
Thơ Thanh Hà
Thơ Thỉnh Họa
Thơ Tâm Hải - Nguyễn Hoàng Minh
Thơ Tịnh Nguyện
Thơ Quảng Thanh
Thơ Nhuận Mỹ
Thơ Lăng Ca
Thơ Không Hồng
Thơ họa
Thơ Dă Hạc
Thơ Chiếc Lá
Thơ Caphêhát
Nhật kư
Khảo luận


CU TƯ ĐI TU

TRĂNG RẰM THÁNG BẢY

MƯA THÁNG NĂM RƠI

Quê hương tuổi thơ

NẾU NHƯ ...

Mùa xuân, Di-lặc, từ thực tại đến ước mơ

CUỘC ĐI VỀ

Gió Xuân 2013

L̉NG CHA

VÔ THƯỜNG Ơi !

NHẤT VỊ PHÁP

NHỮNG CÁNH HOA ĐỜI

EM VẪN ĐẾN VÀ ĐI

HẠT BỤI

Nụ cười Hoa mùa Xuân
Website: http://chuavanhanh.free.fr
Email: chuavanhanh@free.fr