Hiện đang có 1 người 
0 thành viên
 Số lần viếng  : 
Đăng nhập 
Email
Mã số 
Thành viên mới ?
Quên mã số ?
Trang chủ
Tin tức
 Kinh Điển
Phật học
 Từ điển Phật học
Truyện tích Phật Giáo
 Thơ văn
 Khảo luận
 Nhật kư hành hương đất Phật
 THƠ THỈNH HỌA
 Thơ Caphêhát
 Thơ Chiếc Lá
 Thơ Dă Hạc
 Thơ họa
 Thơ Không Hồng
 Thơ Lăng Ca
 Thơ Nhuận Mỹ
 Thơ Quảng Thanh
 Thơ Tịnh Nguyện
 Thơ Tâm Hải - Nguyễn Hoàng Minh
 Thơ Thanh Hà
 Thơ Thân Dũng Xuất
 Thơ Thích Đồng Ngộ
 Thơ Thích nữ Tâm Nghĩa
 Thơ Thích Nguyên Hùng
 Thơ Tuệ Nguyên - Thích Thái Ḥa
 Thơ Tuệ Nhẫn
 Thơ Tuệ Quán
 Thơ Tuệ Thanh
 Truyện ngắn
 Tuỳ bút
 Văn học Phật giáo
 Xuân
Phim
 Âm nhạc Phật giáo
H́nh ảnh
Thư tín
Pháp thoại
Trang tuởng niệm
 
Mùa Xuân - Di Lặc - Lục Tặc

Thích Nguyên Hùng

Một năm được bắt đầu bằng mùa Xuân. Khởi đầu một mùa Xuân tốt đẹp là dấu hiệu cho một năm mới hanh thông. V́ vậy mọi dự tính tương lai, mọi niềm mơ ước, mọi điều tốt đẹp… đều được đặt ra và cầu nguyện trong những ngày đầu năm mới, những ngày Tết.

Người ta nói Tết có từ đời Ngũ Đế, Tam Vương. Hồi đó, nhà Hạ ưa chuộng màu đen, vậy là chọn tháng Giêng (tháng Dần) làm tháng đầu năm. Rồi sang nhà Thương, thích màu trắng, nên lấy tháng Sửu (tháng Chạp) làm tháng đầu năm. Nhưng đến nhà Chu người ta thích màu đỏ, nên đổi tháng đầu năm sang tháng Tư (tháng Mười một).

Cái cách tính tháng ngày đầu năm để đặt ra lễ Tết như vậy không đơn giản chỉ là v́ sở thích ‘ưa màu thời gian’ của các bậc Đế vương, mà người ta đă dựa vào thuyết quan niệm rằng, lúc mới tạo thiên lập địa, giờ Tư có trời, giờ Sửu có đất, giờ Dần sinh ra loài người, từ đó mà chọn tháng đầu năm, đặt ra ngày Tết khác nhau.

Ngày Tết vào tháng Mười một kéo dài đến đời Đông Chu, khi ấy Khổng Phu Tử ra đời, lại ấn định ngày Tết vào tháng Giêng. Nhưng khi Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ, lại đổi qua tháng Hợi (tháng Mười). Măi đến đời nhà Hán trị v́, Hán Vũ Đế lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng). Từ đó về sau, không c̣n ai đặt lại ngày Tết nữa.

Đối với Phật giáo, khái niệm về thời gian là vô thỉ vô chung, chẳng có sự khởi đầu và cũng chẳng có sự kết thúc, bởi sự kết thúc của cái này là khởi đầu của cái kia, chỉ là sự “xuất thử một bỉ” (ẩn đây hiện kia) mà thôi! Cho nên, Xuân đến hoa nở, Xuân đi hoa tàn, và việc đời cứ trôi măi trong khi tóc trên đầu đă điểm bạc cũng chỉ là sự biểu hiện của quy luật tuần hoàn vô thỉ vô chung đó thôi. Tuy nhiên, khi ngày đầu một năm mới được ấp ủ bao nhiêu điều tốt đẹp, con người thầm ước mơ bao điều tươi sáng, lành mạnh, hy vọng một ngày mai, một tương lai tràn đầy hạnh phúc, th́ sự khẳng định “chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước một cành mai” mới nhân bản và Phật giáo quá! Do đó, Phật giáo không thể thờ ơ và lạnh nhạt với những điều mơ ước của con người trong ngày đầu năm mới. Mà ước mơ và hy vọng đối với người Phật tử th́ không có ước mơ nào đẹp hơn ước mơ thành Phật! Vả chăng, thành Phật đâu chỉ là ước mơ. Đức Thế Tôn đă từng nói chúng sanh là Phật sẽ thành. Vậy nên, ngày đầu năm, đối với người Phật tử, là ngày đức Phật tương lai ra đời. Thật là một ngày xán lạn!

Vị Phật tương lai của chúng ta có tên là Di-lặc. Kinh Tạp A-hàm, ghi: “Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi sẽ có Đức Phật hiệu là Di-lặc ra đời” (Tạp A-hàm, kinh số 66).

Di-lặc, tiếng Phạn là Maitreya, Trung Hoa dịch là Từ Thị (họ Từ). Tên Ngài là A-dật-đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng (không ǵ hơn). Có khi người ta cho A-dật-đa là họ, c̣n Di-lặc là tên của Ngài.

Ngài sanh tại niềm nam nước Thiên Trúc trong một gia đ́nh Bà-la-môn. Tương truyền, Ngài là vị Phật tương lai, tiếp sau đức Phật Thích Ca, hiện đang là vị Bồ-tát bổ xứ. Khi Quang Phật nhập diệt, Ngài sanh vào nội viện cung trời Đâu Suất. Ở đó đến 4 ngàn năm (tức là khoảng 56 ức 7000 vạn năm ở cơi người), th́ hạ sanh xuống nhân gian, dưới cây Long Hoa ở vườn Hoa Lâm, và thành Chánh giác. Trong quá khứ, Ngài đă từng tu tập thành công từ tâm tam muội, do đó mà có tên là Từ Thị. Đến khi thành Phật cũng lấy tên này (Theo Từ điển bách khoa toàn thư).

Chú Duy Ma Kinh, quyển 1, ghi: “Di-lặc là họ của một vị Bồ-tát, tên là A-dật-đa. Người nam Thiên Trúc, thuộc ḍng dơi Bà-la-môn”. Thiên Thai Tịnh Danh Sớ, ghi rằng: “Di-lặc nghĩa Từ Thị. Trong quá khứ, ngài từng làm vua tên là Đàm-ma-lưu-chi, dùng ḷng từ bi để cai trị thiên hạ, nên dân chúng tôn xưng ngài là Từ Thị. Từ đó trở đi, ngài luôn mang tên Từ Thị, họ là A-dật-đa, tức là không ǵ hơn”.

Câu Xá Quang Kư, quyển 18, ghi: “Maitreya dịch nghĩa là Từ Thị. Đó là vị Bồ-tát sinh ra từ ḷng từ bi, cho nên gọi tên như vậy”. Theo cách giải thích này, th́ cứ một tâm niệm từ bi, thương người phát sinh là một vị Bồ-tát ra đời. Trong ngày đầu năm mới, chúng ta hạn chế mọi cử chỉ, hành động, lời nói và cả suy nghĩ nữa, sao cho đừng phiền ḷng ai, cố gắng giữ tâm hồn thanh thản, vui vẻ, hoan hỷ… đó là một ngày chúng ta sống trong tâm niệm của Bồ-tát Di-lặc. Một ngày đầu năm như vậy, và kéo dài suốt năm như vậy, th́ đức Phật Di-lặc đản sanh hằng ngày. Thật tốt đẹp biết bao!

Tương truyền, Bồ-tát Di-lặc đă từng thị hiện ở cơi đời này. Một lần, vào thế kỷ thứ 10, Ngài thị hiện làm Bố Đại Ḥa thượng.

Bố Đại Ḥa thượng ở vùng Phụng Hóa Minh Châu, vào triều Lương, đời Ngũ Đại, Trung Quốc. Thân h́nh mập tṛn vui vẻ, nói năng tự tại, ăn ngủ tùy tiện, trẻ con hay quấn quít xung quanh, thường mang trên vai một bao bố, có nhiều phép mầu và có những hành động lạ lùng mang tính chất ‘cuồng thiền’. Ngài được quần chúng mến phục v́ có tài tiên tri thời tiết mưa nắng. Một khi Ngài ngủ ngoài đường, mọi người biết trời sẽ tốt, ngược lại lúc Ngài đi giày dép và kiếm chỗ tạm trú th́ trời sẽ mưa. Cho đến khi thị tịch, Ngài ngâm kệ: “Di-lặc chơn Di-lặc, Phân thân thiên bách ức, Thời thời thị thời nhơn, Thời nhơn tự bất thức”, mọi người mới biết Ngài là Bồ-tát Di-lặc thị hiện. Từ đó, người ta họa h́nh Ngài với dáng vẻ rất tự tại, hoan hỷ, có sáu đứa trẻ nít vây quanh. H́nh ảnh này bây giờ ở đâu cũng thấy tôn thờ (Theo Tạp chí Từ Bi Âm).

Sáu đứa trẻ nít, nhiều người lư giải, nó tượng trưng cho sáu tên giặc, gọi là lục tặc. Vậy bộ mặt thật của sáu tên giặc này là ǵ? Phật Quang Đại từ điển giải thích: Lục tặc là sáu tên cướp. Sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nhờ sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư làm môi giới, cướp đoạt công năng tài pháp, cho nên ví nó như sáu tên giặc cướp.
Kinh Niết-bàn, quyển 23, ghi: “Sáu tên cướp lớn tức là sáu trần bên ngoài. Bồ-tát Ma-ha-tát xem sáu trần như sáu tên cướp lớn. V́ sao vậy? Bởi v́ chúng có khả năng cướp đoạt hết thảy thiện pháp, giống như sáu tên đại tướng cướp có thể chiếm đoạt hết thảy tài sản của cải của người dân. Giặc ác sáu trần cũng như vậy, có thể cướp đoạt hết thảy thiện tài của chúng sanh như sáu tên giặc lớn.

“Sáu tên cướp lớn nếu đột nhập vào nhà người th́ chúng sẽ lấy tất cả tài sản, không phân biệt tốt xấu, khiến cho người giàu phút chốc trở nên nghèo khó bần cùng. Giặc sáu trần cũng như thế, nếu đă xâm nhập vào các giác quan của con người rồi th́ có thể cướp đoạt hết thảy pháp lành. Một khi thiện pháp đă mất hết rồi th́ trở thành kẻ nhất xiển đề, thui thủi một ḿnh trên con đường bần cùng khốn khổ. V́ thế, Bồ-tát nh́n nhận một cách đúng đắn sáu trần giống như sáu tên cướp lớn.

“Ban đêm là môi trường hoạt động của bọn cướp, nên những tên cướp lớn thấy đêm đến th́ sung sướng hí hửng. Giặc ác sáu trần cũng như thế. Vô minh là môi trường hoạt động của nó, nên ở chỗ tối tăm vô minh th́ nó sung sướng hí hửng” (ĐTK/ĐCTT, tập 12, số 374, trang 0501a10, bản điện tử).

Kinh Lăng Nghiêm, quyển 4, ghi: “Hiện tiền sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư của ngươi làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà, vọng thành sự thắt kết phiền năo. Do sự thắt kết này nên thế giới chúng sanh tự sanh ràng buộc từ vô thỉ, chẳng thể ra khỏi thế gian vậy” (ĐTK/ĐCTT, tập 19, số 945, trang 0122c03, bản điện tử).

Kinh Tạp A-hàm, quyển 43, kinh số 1172, cũng ghi: “Này bạn, bên trong c̣n có sáu tên giặc đang đuổi theo ŕnh rập anh. Nếu bắt được, chúng nó sẽ giết. Anh nên đề pḥng”.
Bấy giờ, người này v́ sợ bốn con rắn độc, năm kẻ oán thù cầm dao, với sáu tên giặc ở bên trong, nên kinh hăi bỏ chạy, lại trở vào trong xóm vắng. Thấy một căn nhà trống mục nát nguy hoại kia, với những đồ vật xấu ác, ḍn tan, dễ vỡ, không có ǵ chắc thật. Trong xóm vắng lại cũng có bọn giặc đang hoành hành.

Đức Phật giải thích, sáu tên giặc ác bên trong là dụ cho sáu ái hỷ. Bọn giặc nơi xóm vắng là dụ cho sáu nhập xứ bên ngoài. Mắt bị sắc vừa ư, không vừa ư làm hại; tai đối tiếng, mũi đối mùi, lưỡi đối vị, thân đối xúc, ư đối pháp dù vừa ư hay không vừa ư cũng đều bị hại.
Quán Tâm Luận th́ giải thích sáu giặc như sau: “Sáu căn cũng gọi là sáu giặc. Sáu tên giặc này chính là lục thức. Ra vào các căn tham trước vạn cảnh, có thể thành ác nghiệp tổn hao thể Chân như, cho nên gọi là sáu giặc. Hết thảy chúng sanh do ba độc và sáu giặc này mà rối loạn thân tâm, trầm luân trong sanh tử, luân hồi trong sáu nẻo, chịu không biết bao nhiêu khổ năo. Cũng như ḍng sông v́ có cội nguồn nên mới luân lưu bất tuyệt, có thể chảy xa vạn dặm, nếu có người cắt đứt mất cội nguồn này, th́ các ḍng đều cạn. Người muốn cầu giải thoát th́ cũng phải đoạn trừ ba độc và sáu giặc này” (ĐTK/ĐCTT, tập 85, số 2833, bản điện tử).

Như vậy, các kinh đều nói lục tặc là sáu trần, duy Quán Tâm Luận nói là sáu thức, điều mà Tạp A-hàm gọi là sáu giặc ác bên trong, tức sáu ái hỷ. Sáu căn làm môi giới cho sáu giặc bên ngoài, nên nó là nội gián. Vậy th́, 18 giới đều là giặc hoặc cùng phe giới giặc cả.

Đức Phật nói, những ai “đối với sắc được nhận thức bởi mắt mà có ái niệm, đắm nhiễm; do ái niệm, đắm nhiễm, thường y trên thức và bị nó trói buộc, bị nó giữ chặt, nên không thể nhập Niết-bàn ngay trong đời hiện tại. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ư cũng lại như vậy”. Đoạn kinh này làm chúng ta hiểu hơn về câu nói của Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”. Nghĩa là, “đối với sắc được nhận thức bởi mắt mà không ái niệm, đắm nhiễm; v́ không có ái niệm, đắm nhiễm nên không y trên thức. V́ không bị xúc, không bị dính mắc, không bị chấp thủ, nên các Tỳ-kheo này nhập Niết-bàn ngay trong đời hiện tại. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ư lại cũng như thế”.

V́ vậy, chúng ta phải luôn luôn hộ tŕ 6 căn, đừng để 6 cảnh đắm nhiễm. Cũng như con rùa sống trong bụi cỏ ven sông. Hôm nọ có một con dă can đói đi t́m thức ăn. Vừa thấy con rùa, nó vội nhảy tới vồ lấy. Con rùa thấy vậy, liền thu hết đầu đuôi và bốn chân vào trong mai. Dă can canh đợi con rùa tḥ đầu, chân ra là chụp ăn liền. Nhưng chờ lâu quá, mà nhất định rùa không tḥ đầu và chân ra. Dă can đói quá, tức tối bỏ đi.

“Này các Tỳ-kheo, ngày nay các ông cũng lại biết như vậy. Ma Ba-tuần luôn luôn ḍ xét t́m cơ hội bên các ông. Mong đợi mắt các ông đắm sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ư nhớ pháp mà xúi dục sanh tâm đắm nhiễm sáu trần. Cho nên Tỳ-kheo, các ông phải luôn luôn giữ ǵn luật nghi của mắt. Khi đă giữ ǵn an trụ nơi luật nghi của mắt rồi, dù mắt có sanh khởi hoặc duyên cảnh đi nữa th́ ác Ma Ba-tuần cũng không thể t́m được cơ hội. Tai mũi, lưỡi, thân, ư cũng lại như vậy. Dù sáu căn kia có sanh khởi hoặc duyên cảnh đi nữa, th́ chúng cũng không thể t́m được tiện lợi. Giống như con rùa, dă can không thể t́m được cơ hội nào” (Kinh Tạp A-hàm).

Đó là lư do v́ sao Bồ-tát Di-lặc sống ung dung tự tại với sáu giặc vây quanh, và lúc nào trên khuôn mặt Ngài cũng rạng rỡ mùa Xuân. Đó, Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân, khi nào cũng thấy Ngài cười. Thật là hoan hỷ!

Số lần xem: 656
Xuân
Mùa xuân, Di-lặc, từ thực tại đến ước mơ
Thích Nguyên Hùng
2013-02-03
THẦN CHÚ TRỪ RẮN ĐỘC
Thích Nguyên Hùng
2013-01-25
Gió Xuân 2013
Trần Chánh Trực
2013-01-02
Nụ cười Hoa mùa Xuân
Trần Chánh Trực
2012-01-13
CHUYỆN CỦA RỒNG
Thích Nguyên Hùng
2012-01-09
Tâm sự Xuân 2011
Trần Chánh Trực
2011-01-02
Tâm sự Xuân 2010
Trần Chánh Trực
2010-02-08
NĂM DẦN NÓI CHUYỆN CỌP
Nguyễn Phú Thứ
2010-01-21
DƯ ÂM NGÀY XUÂN
Ngọc Dung
2009-02-03
ĐÊM TRỪ TỊCH VÀ NỤ HOA XUÂN
Tuệ Thanh
2009-02-03
NHỮNG TẤM L̉NG
Chiếc Lá
2009-01-26
CHUYỆN MỘT PHO TƯỢNG
Trần Chánh Trực
2009-01-05
TÂM SỰ NGÀY XUÂN
Trần Chánh Trực
2008-12-29
CÀNH MAI VÔ TƯỚNG
Thích Nguyên Hùng
2008-12-17
GIAO THỪA Ở CHÙA VẠN HẠNH
Trần Chánh Trực
2009-01-27
TUỔI TRẺ VÀ MÙA XUÂN
Thích Nguyên Hùng
2008-01-31
Mùa Xuân - Di Lặc - Lục Tặc
Thích Nguyên Hùng
2008-01-31
Hoa Mai và Thơ
Dă Hạc
2007-09-05

Website: http://chuavanhanh.free.fr
Email: chuavanhanh@free.fr
;