Trang chủ En français Tin tức H́nh ảnh Thơ Văn Âm nhạc
GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA
CAO THƯỢNG


7.1. Trốn chạy sự ân sủng

Triều nhà Tấn, tại Trường An, có sư hiệu Đạo Hằng.
Vua Diêu Hưng, nước Diêu Tần, thường xuống chiếu ép sư hoàn tục tham gia triều chính, giúp đỡ việc cai trị thiên hạ (bởi v́ sư Đạo Hằng có rất nhiều tài, đa văn, vơ dũng, học vấn nội ngoại tinh thông, Diêu Hưng thấy sư khôi ngô tuấn tú, lại có tài sử trị việc nước, cho nên ép sư hoàn tục để trợ giúp việc chấn chỉnh vương nghiệp của ḿnh), nhưng sư nhất định từ chối không chịu. Triều đ́nh nhọc công khuyến dụ, hao tổn thời gian và phiền phức rất nhiều, cứ giằng co qua lại măi cũng không được, cuối cùng được tha, sư liền cảm thán mấy câu rằng:
“Người xưa có nói một câu: Muốn giàu có tiền bạc, làm lớn mạnh thế lực cho ḿnh tất phải hao tổn tinh thần của ḿnh; muốn làm lớn mạnh danh vọng của ḿnh có thể sẽ tạo thành họa sát thân ḿnh!”
Thế là suốt đời sư ẩn cư trong núi, lấy cỏ cây hoa trái làm thức ăn nuôi thân, lấy thiền định làm thức ăn nuôi dưỡng huệ mạng, suốt đời không ra khỏi núi.

7.2. Đạo phong thanh thoát

Triều nhà Tấn, tại Lô Sơn, có sư Huệ Vĩnh và Huệ Viễn cùng ở tại Lô Sơn Liên Xă, tỉnh Giang Tây. Tướng quân Hà Vô Kị, trấn Nam, trấn giữ Cửu Giang, Giang Tây, có một đôi lần tại tiệc rượu Hổ Khê, mời sư Huệ Vĩnh và Huệ Viễn giá lâm. Đi theo sư Viễn c̣n có hơn 100 vị, mỗi mỗi điều đoan trang nghiêm chỉnh, nho nhă lễ phép; riêng sư Vĩnh th́ đắp một chiếc y củ nát, vá khâu nhiều chỗ và một đôi giày cỏ, tay cầm tích trượng, ôm bát nhẹ nhàng, ung dung đi đến, thần khí tự tại, như như. Hà Vô Kị nói với mọi người: “Đại sư Huệ Vĩnh có phong cách thanh cao, siêu thoát ra ngoài trần tục, so với sư Viễn chỉ có hơn chứ không có kém!”.

Lời b́nh:

Tuỳ tùng của sư Viễn hơn một trăm người, đều là những nhân tài và đức độ của Liên Xă, mà Hà Vô Kị c̣n phê b́nh, khen chê; nếu như người xuất gia ngày nay nuôi người ăn ở, cầm dù, gánh rương (xách vali), vội vàng t́m người phú quư, đi với những người có vị trí cao hơn ḿnh, Hà Vô Kị trông thấy cảnh tượng này, không biết lại phê b́nh như thế nào đây!

7.3. Không thọ hưởng sự cúng dường của vua

Đời Diêu Tần, tại Trường An, có đại sư Phật-đà-da-xá (Buddhayaśas).
Lúc sư ở tại Cô Tạng (nay là tỉnh Cam Túc), vua Diêu Hưng sai di sứ đến thăm hỏi và tặng nhiều lễ vật quí trọng nhưng sư đều không nhận. Khi sư đến Trường An, vua Diêu Hưng đích thân ra đón tiếp, rồi đặc biệt kiến lập công thự mới nơi khu nhà khách tại vườn Tiêu Diêu để riêng cho sư, đồng thời cung cấp vật thực ăn uống, y phục, tọa cụ, thuốc men,… tứ sự cúng dường vô cũng sung măn, nhưng sư đều không nhận, ngày chỉ ăn một lần (vào giờ ngọ), rất đơn giản. Y phục, ngọa cụ cúng dường cho sư chất đầy ba pḥng, nhưng sư chưa từng dùng đến. Vua Diêu Hưng liền sai người đem bán, số tiền thu được xây một ngôi chùa ở Nam thành.

7.4. Vua đến không đón, khi về không tiễn

Thời Bắc Triều, nước Tề (479-502), tại Nghiệp Tây, Long Sơn, chùa Vân Môn, có sư hiệu Tăng Trù.
Vua nước Tề, Văn Tuyên Đế, thường hay dẫn tùy tùng tả hữu và thị vệ đến chùa thăm hỏi và thỉnh giáo sư. Sư xưa nay vẫn ngồi trong pḥng nhỏ, khi vua đến không đi đón tiếp, khi về cũng không đưa tiễn. Đệ tử của sư khuyên nên đối đăi với Hoàng đế ân cần một chút, nên đi đón tiếp, đưa tiễn. Sư trả lời:
“Ngày xưa, tôn giả Tân-đầu-lô(1), đi bảy bước đón tiếp vua Ưu Điền, khiến cho vua bảy năm mất nước, ta nay đức hạnh kém cỏi, so với tôn giả Tân-đầu-lô th́ không bằng, nhưng cũng không dám phá hoại h́nh tướng tôn quư của người xuất gia, chỉ hy vọng rằng Hoàng đế nhân v́ cung kính Tam Bảo mà được phước báo”.
Người trong thiên hạ đối với đức hạnh, tiết tháo của sư lại càng thêm cung kính.

7.5. Không giao du với người phú quư

Thời Nam triều, đời Nhà Lương (502-557), tại Chung Sơn, chùa Tống Hi, có sư hiệu Trí Hân.
Sư người Kiến Khương, Sơn Dương. Sư diễn giảng nghĩa kinh rất hay, danh đồn khắp nước. Thời vua Tề Vũ Đế, niên hiệu Vĩnh Minh (483-494) năm cuối, Thái tử thường hay đến dự lễ Tỉnh điền ở Đông thành, một đôi lần có ghé đến chùa lễ bái, thăm hỏi sư Trí Hân, nhưng sư thoái thác rằng có bệnh không thể tiếp khách. Sư thường ẩn cư trong Chung Sơn, thảnh thơi tự tại. Sư không lui tới giao tiếp với người phú quư, phong cách thanh cao rất khác người đời. Từ xưa đă không cất giữ vật dụng, tiền bạc cúng dường cho, sư đều đem đi xây dựng, tu sửa chùa viện.

7.6. Không dẫn đường cho giặc

Triều nhà Tuỳ (581-618), tại Kinh Châu, núi Thanh Khê, có sư hiệu Đạo Duyệt.
Sư người Kinh Châu. Thường tŕ tụng kinh Bát Nhă. Lúc sư c̣n trú tŕ chùa Ngọc Tuyền, gặp bọn Ngưu Sán tạo phản, chạy vào chùa cướp bóc, vơ vét hết tài sản lương thực, lại muốn giết chết cả sư. Đạo Duyệt không một chút sợ hăi. Bọn loạn tặc thấy sư không một chút sợ hăi th́ không giết, gọi sư dẫn đường đi đến nơi bí mật, sư đi mấy bước rồi ngồi xuống đất nói: “Ta là người xuất gia, không phải là người dẫn đường, thân thể của ta do bốn đại hư huyễn mà hợp thành, muốn giết cứ giết”. Ngưu Sán hết sức kinh hăi và khâm phục khí tiết cao thượng của sư, liền đưa sư về chùa.

7.7. Không vào cung

Triều nhà Đường, Tăng thống nước Tân-la là pháp sư Từ Tạng (Tân-la ngày nay là Hàn Quốc). Sư tính t́nh thầm lặng, siêng tu Phật pháp. Sau đó có cảm ứng hiển hiện, mọi người đều kính phục. Quốc Vương mấy lần triệu sư vào cung, sư đều không đi. Quốc vương rất giận, mệnh lệnh đem sư giam ở nhà tù trong núi, chờ ngàu gia h́nh xử quyết. Sư nói với tên sứ giả rằng: “Ta thà giữ giới một ngày mà chết chứ không sống một đời phá giới”. Sứ giả nghe nói rất cảm động, không nỡ tâm giết sư, viết biểu tấu tŕnh sự việc lên quốc vương, nhà vua cuối cùng cũng cảm động phong cách của sư mà tha tội.

7.8. Thà chết không vào cung

Triều nhà Đường, tại B́ Châu, núi Song Phong, có thiền sư Đạo Tín, Tổ thứ tư thiền tông.
Sư trú tŕ chùa Song Phong, Hoàng Mai (nay là tỉnh Hồ Bắc), hơn 30 năm. Vào niên hiệu Trinh Quán (627-650), vua Đường Thái Tông ba lần xuống chiếu mời sư đến thủ đô. Một cách nh́n thông thái, tứ Tổ thoái thác có bệnh, từ chối không đi. Hoàng đế mệnh lệnh cho sứ giả nếu như lần này không vào kinh th́ sẽ lấy đầu. Khi sứ giả đến Tổ đưa cổ ra cho chém, không một chút sợ hăi. Sứ giả đem việc này bẩm báo lên Hoàng đế, Đường Thái Tông than thở không thôi, cuối cùng không làm khó Tổ nữa, lại c̣n đem những tơ lụa quư hiếm tặng cho Tổ. Cuối đời Tổ ở hẳn trong núi.

Lời b́nh:

Nghiêm Tử Lăng trước sống ở Đông Hán, người Diêu, họ Nghiêm, tên Quang, Tự Tử Lăng, lúc nhỏ cùng với vua Quang Vũ Đế, nhà Hán đi du học. Quang Vũ lên ngôi, Tử Lăng ẩn thân đổi tên biệt tung tích, vua sai người đi t́m, khổ cực lắm mới t́m được đem về triều làm quan phụ tá vương nghiệp, nhưng ông ta cự tuyệt không chịu về, chỉ thích cày ruộng ở núi Phú Xuân. Triều nhà Tống, ở Lạc Dương, có Nhân Chủng Phóng, ẩn cư ở Chung Nam, ghiền rượu cùng canh, tự hiệu là Vân Khê túy tửu. Thời Tống Chơn Tông (998-1023), vua mời ông làm Tả Tư Giám, ông t́m cách từ chối về núi. Sau đến đời tống Nhân Tông (con Chơn Tông) lên ngôi (1023-1064), ông cũng cự tuyệt không nhận lời mời. Phong cách của hai người này, bất quá chỉ là phong cách của những ẩn sĩ mà thôi, đă thanh cao, nhưng vẫn chưa nghe qua việc uy vũ ép bức đến chết vẫn thản nhiên cự tuyệt không nhận! Phong cách thanh cao này, quả giống như loan phượng bay vút trên bầu trời cao, thật tại chỉ nh́n thấy mịt mờ không dấu tích, không bao giờ theo kịp! Tứ Tổ là người vô cùng vĩ đại, sư Từ Tạng cũng là người vô cùng vĩ đại!

7.9. Ba lần xuống chiếu mời vào cung đều từ chối

Triều nhà Đường, tại Phần Châu, chùa Khai Nguyên, có sư Vô Nghiệp, người Ung Châu, Thiểm Tây.
Vua Đường Mục Tông (821-825) phái Di Tả Nhai Tăng Lục (tên vị Tăng làm quan, bắt đầu có chức quan này từ thời Diêu Hưng, nước Tần, đến đời Đường lại phân làm hai, tả hữu Nhai Tăng Lục, giữ chùa, miếu, thế độ và quan hệ với những vị quan chức), mang chiếu thư đi thỉnh Vô Nghiệp vào kinh. Sư cười nói: “Bần Đạo không có đức hạnh ǵ, rất lấy làm hỗ thẹn phải làm phiền đến Hoàng thượng mời thỉnh, lần này tôi không thể từ chối, xin Ngài đi trước, tôi sẽ theo sau”.
Sau đó sư tắm gội thân thể, trải toạ cụ ngồi ngay ngắn, xong gọi đồ chúng lại, nói:
“Các người mắt thấy tai nghe, thân thể xúc chạm có cảm giác, ư thức biết căn tánh, th́ măi măi không để giảm sút, và phải giống hư không vô cùng vô tận (ư nói: thức căn có huỷ diệt nhưng thức tánh bất diệt), hết thảy các hiện tượng bên ngoài chỉ là sáu căn tiếp xúc sáu trần sinh ra sáu thức hư vọng huyễn hoá mà thôi, vạn pháp chỉ có thức và do nhân duyên tạo thành nên bản tánh vốn không, tự tánh bản thể th́ một hạt bụi không nhiễm, phổ biến khắp pháp giới, chỉ cần thấy rơ hết thảy đều là tâm th́ diệt trừ được vọng tưởng phân biệt, hết thảy cảnh giới đều giống như hư không. Chúng sanh do v́ vô minh không tỏ ngộ, bị ngoại cảnh mê hoặc, trôi lăn theo ḍng chảy luân hồi trong sáu nẻo, ba cơi, tiếp nối từ đời này sang đời khác không có chấm dứt. Nếu như có thể y theo lời ta đă dạy ở trên, thường cố gắng tu tập để hiểu rơ hết thảy các pháp như huyễn, như mộng, không có một pháp nào có thể phân biệt và nắm giữ, th́ yên tâm ở chỗ chư Phật, tức là đă khế hợp với tâm pháp của chư Phật”.
Nói xong, sư ngồi ngay thẳng đến nửa đêm th́ viên tịch. Linh Chuẩn trở về kinh, đem sự việc này tŕnh tấu Hoàng thượng. Hoàng đế vô cùng cảm động, truy phong cho sư làm Đại Đạt Quốc Sư. Hai thời vua Đường Hiến Tông (806-821) và Đường Mục Tông (821-825) tổng cộng có ba lần xuống chiếu mời thỉnh sư Vô Nghiệp, sư đều từ chối.

7.10. Chiếu thư đến không đứng lên

Triều nhà Đường, ở Nhuận Châu, núi Ngưu Đầu, có sư Pháp Dung, ẩn cư ở phía Nam kinh, núi Ngưu Đầu (Ngưu thủ sơn). Hoàng thượng biết danh tiếng của sư, sai di sứ mời sư vào cung gặp mặt. Lúc sứ giả đến núi Ngưu Đầu, sư đang ngồi trên đất, đốt phân ḅ, nướng khoai lang ăn. Trời rất lạnh, nước mũi chảy đầy mặt. Sứ giả nói: “Có chiếu lệnh của Hoàng đế đến, mời tôn giả đứng lên nghe Thánh chỉ”. Sư vẫn điềm nhiên chú ư nướng khoai mà không hỏi ông ta. Sứ giả cười nói: “Nước mũi chảy đầy trên mặt Ngài rồi ḱa”! Sư nói: “Ta đâu có rảnh công phu v́ người thế tục lau mũi”. Hoàng thượng nghe việc này khen là hy hữu liền trọng thưởng và biểu dương sư.

7.11. Chịu chết nuôi Tăng chúng

Đời nhà Đường, tại Cổn Châu, Chùa Pháp Tập, có sư Pháp Xung, người Thành Kỷ, Lăng Tây.
Thời vua Đường Thái Tông, niên hiệu Trinh Quán năm đầu (627), hạ lệnh: ai một ḿnh độ người xuất gia, phạm tội tử h́nh. Bấy giờ ở núi Dịch Dương, có rất nhiều người không có độ điệp (chứng điệp) của quốc gia cấp phát làm người xuất gia, sư Pháp Xung đều thâu nhận hết. Nhưng v́ người đông mỗi ngày người một đông, nên lương thực thiếu hụt. Sư liền đi đến gặp vị trưởng châu, nói: “Tôi đến đây xin được chịu trách nhiệm xử chết, chỉ xin Ngài bố thí cho lương thực để cứu giúp người xuất gia an tâm tu tập, suốt đời ngài sẽ được phước báo và được sự chở che của Tam Bảo”. Châu trưởng rất vui mừng, khen ngợi chí khí của sư, dám chịu phạm vào luật pháp để cứu mọi người.

7.12 Không dự yến tiệc

Triều nhà Đường, có Thiền sư Thao Quang, dựng một am tranh tịnh tu tại núi Linh Ẩn, Sơn Tây. Thứ sử Hoàng Châu, Bạch Cư Dị, chuẩn bị cơm chay cúng dường, viết một bài thơ thỉnh sư đến thọ cúng. Sư viết một bài kệ gởi lại cho Bạch Cư Dị, từ chối lời mời của ông, trong kệ có câu: “Chốn phồn hoa đô thị ồn ào, thật không phải là chỗ của người xuất gia chúng tôi lui tới, đi rồi sợ rằng tiếng ca uyển chuyển du dương của chim Hoàng oanh trước Kim ngọc đường cũng sẽ nỗi giận bay đi” . Phong cách của sư là cao siêu như vậy.

Lời b́nh:

Ngày xưa, có một vị đại đức đă viết một bài kệ từ chối lời mời dự yến tiệc quyền quư của triều đ́nh, có câu: “Hôm qua, tôi rất vui mừng khi nhận được lời mời của Ngài, hôm nay tôi cũng muốn đi tham dự yến tiệc, nhưng ra đến cửa, bước được vài bước, dựng cây tích trượng suy nghĩ kỉ một chút, thấy rằng người xuất gia chỉ thích hợp ở trong hang núi, thực sự không thích nghi tham gia yến tiệc của quốc gia đại thần”.
Ư cảnh thanh cao này cùng với sư Thao Quang trước sau thật chẳng khác nhau. Hai bài kệ này người xuất gia nên sớm hôm tụng niệm, kỉ lưỡng xem xét một lần.

7.13. Không nhận y và danh hiệu

Triều nhà Đường, tại Việt Châu, tu viện Thanh Hoá, có Thiền sư Toàn Phó.
Sư họ Hà, tự Lai Thế người xứ Côn Sơn (nay thuộc Giang Tô) Trung Quốc. Thuở bé sư nghe các thiền hội thạnh hành liền xin xuất gia nơi Đại sư Thanh B́nh ở Giang Hạ (nay là huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc). Sau sư đến Ngưỡng Sơn Nam Tháp ở Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân tỉnh Giang Tây) yết kiến Thiền sư Quang Dũng, đối đáp qua lại, sư khế ngộ sâu cơ của Ngưỡng Sơn, nối pháp ngài, thuộc tông Quy Ngưỡng(1). Sau đó, sư trú tŕ thiền viện Thanh Hoá ở Cáp Hồ Sơn. Vua Trung Hiến Tiền Thị sai di sứ mang áo ca-sa đỏ tặng cho sư, sư dâng biểu lên Hoàng thượng cực lực từ chối không nhận, sứ giả lại mang tới lần nữa, sư lại từ chối, nói :
“Tôi không phải giả trang thiền tướng khiêm nhượng không nhận, tôi chỉ sợ rằng người đời sau đam mê dục vọng lợi danh đầy đủ của ḿnh học theo tôi tiếp nhận sự ban tặng!”.
Sau đó ít lâu, vua Trung Hiến lại ban tặng cho sư Tôn hiệu Thuần Nhất Thiền sư, sư vẫn từ chối không tiếp nhận.

7.14. Dứt khoát từ chối nhận y đỏ

Thời Ngũ Đại, nhà Hậu Hán (947-950), ở Đệ Châu, chùa Khai Nguyên, có sư hiệu Hằng Siêu.
Sư người Uyển Dương, trú tŕ chùa Khai Nguyên, diễn giảng kinh luận hơn 20 năm. Trước sau các sứ thần nhận chức Mục châu vùng này đều ngưỡng mộ sư, rất nhiều người đến để lại danh thiếp, bày tỏ ư muốn gặp sư, sư sai thị giả thu nhận danh thiếp, nhưng rất ít người được gặp sư chuyện tṛ. Bấy giờ, quan thủ Lư Công Tố cảm mến phong cách đức hạnh của sư, muốn dâng biểu lên Hoàng thượng xin ban tặng áo ca-sa đỏ cho sư. Sư viết một bức thư ngăn cản ông ta, trong thư có đoạn: “Tôi thệ nguyện truyền bá chánh pháp, giảng giải kinh luận cho đến già, không muốn bị cuộc sống danh lợi của thế tục làm cho ô nhiễm”. Lư Công lại một lần nữa sai người đến khuyên sư nên tiếp nhận, sư nhất định từ chối không thay đổi, và nói: “Nếu ngài c̣n đến đây khuyên tôi, tôi sẽ trốn sang Lô Long (nay là tỉnh Hà Bắc, phủ Vĩnh B́nh)”.
Tể tướng Oanh Vương Phùng Đạo biết danh đức của sư, viết thư thăm hỏi và kết giao với sư, sư viết thư đáp lời: “Bần Tăng từ nhỏ đă từ bỏ cha mẹ, lập chí tu hành, chủ yếu là hy vọng được Ngài Di Lặc Bồ tát rũ ḷng từ ái, sau khi mạng chung được sanh lên cung trời Đâu Suất, ở trong nội viện nghe pháp, không muốn lăng truyền hư danh đến tai tể tướng. Tôi tu hành thấy rơ rằng, mọi thứ danh lợi trong đều hư huyễn, không thật!”. Tể tướng xem thư xong lại càng thêm tôn kính sư, dâng biểu lên tấu rơ với triều đ́nh, hậu Hán Cao Tổ liền ban tặng cho sư áo ca-sa đỏ. Ngày sư viên tịch, mọi người đều nghe thấy nhạc trời vang khắp hư không, đây là điều chứng minh sự thật sư được sanh lên cung trời Đâu Suất!

Lời b́nh:

Được mặc áo ca-sa đỏ và kết giao với đại quan tể tướng là điều mà người ta thèm khát, hy vọng, nhưng chỉ sợ rằng không được. Vậy mà Toàn Phó thiền sư và Hằng Siêu thiền sư, cả hai vị đại đức đều kiên quyết từ chối, dường như tiếp nhận là một sự sĩ nhục lớn. Tiết tháo thanh cao người ngày nay không thể xâm phạm, có thể chiếu soi thiên cổ, ảnh hưởng đời sau, thật có thể khiến cho những người đam mê, vui sướng kết giao bạn bè với người quyền quư, say đắm lợi danh tỉnh mộng.

7.15. Không thích ở vương cung

Thời Ngũ đại, đời hậu Đường (923-936), ở Định Châu, chùa Khai Nguyên, có sư Trinh Biện, người Trung Sơn. Sư tu hành khắc khổ, thường lấy máu viết kinh. Bấy giờ, tại Tinh Châu (tỉnh Sơn Tây, Thái Nguyên), không cho Tăng lữ ở miền khác đến cư trú. Sư liền dă ngoại đến đó, ẩn cư trong một cổ mộ. Một hôm, Vũ Hoàng Đế đi săn, sư mạnh dạn ra khỏi mộ đi đến kinh thành giảng kinh. Thấy cờ, người, xe, ngựa của vua, sư vội vàng ẩn thân trong mộ, nhưng bị Vũ Hoàng phát hiện kéo ra, hỏi sư v́ sao lại ở đây, và kiểm tra chỗ ở của sư trong cổ mộ, chỉ thấy tọa cụ bằng cỏ, trên bàn bút mực, kinh điển, sớ sao rất nhiều, liền sinh ḷng kính phục, mang sư vào cung cúng dường. Tào Thái hậu rất kính ngưỡng, tôn trọng sư. Hôm nọ, sư nói với Thái hậu rằng: “Bổn chí của tôi chủ yếu là tu học Phật pháp, ở lâu trong cung thế này có cảm giác như bị trói buộc tay chân”. Vũ đế liền thả sư tự do.

7.16. Dấu thư giới thiệu vào trong tay áo

Triều nhà Tống, tại Minh Châu, có Thiền sư Tuyết Đậu Trọng Hiển.
Sư tự Ẩn Chi, người Toại Ninh (Đồng Nam, Tứ Xuyên), Trung Quốc. Gia thế giàu có, sư theo Nho giáo. Thuở nhỏ sư kế thừa gia học song chí lại xuất thế, nên lúc tuổi thanh xuân đă bỏ tục vào đạo theo Nhân Sân viện Phổ An xuất gia. Ban đầu học kinh luật và xen cả thế pháp. Sau khi thụ giới cụ túc sư chuyên tu định nghiệp. Sư đến Bắc Tháp, Phục Châu (Thiên Môn, Hồ Bắc) tham kiến Thiền sư Trí Môn Quang Tộ, y chỉ 5 năm được nối pháp làm truyền nhân tông Vân Môn(1).
Một hôm, sư Hiển định hành cước một chuyến đến sông Tiền Đường (sông Tiền Đường phía đông gọi là Chiết đông, phía tây gọi là Chiết tây, gọi chung là Lưỡng Chiết), học sĩ Tăng Công đề nghị với sư rằng: “Ngài nên đến chùa Linh Ẩn. Chùa Linh Ẩn ở gần sông Tiền Đường là một danh lam thắng cảnh nỗi tiếng trong thiên hạ, trụ tŕ chùa Linh Ẩn là Thiền sư San. Ông ấy là bạn của con”. Rồi viết một lá thư trao cho sư mang đi.
Sư đến chùa Linh Ẩn, lặng lẽ theo chúng tu hành, trải qua hơn ba năm. Một hôm, Tăng Công phụng mệnh xuất xử Chiết tây, thuận đường ghé thăm sư. Đến chùa Linh Ẩn, hỏi thăm Thiền sư Trọng Hiển th́ không có ai biết. Bấy giờ trong chùa có hơn ngàn người, Tăng Công lệnh cho cấp dưới kiểm tra danh sách từng người mới t́m được sư. Tăng học sĩ hỏi sư v́ sao trước đây đă viết thư giới thiệu trao cho mang đi mà không đưa ra cho trụ tŕ. Sư Hiển lấy lá thư cất trong tay áo ra, vẫn c̣n nguyên vẹn, chưa tháo phong b́. Sư nói: “Ư tốt và sự quan tâm của huynh tôi rất cảm kích, nhưng chỉ là một vị Tăng hành cước, ngao du vân thuỷ như tôi, đối với danh lợi thế gian không cần đến làm ǵ, sao lại dám kỳ vọng vào lời giới thiệu của huynh để được danh dự, hiển đạt?”. Tăng công cười lớn. Thiền sư San nhân v́ việc này mà đối với sư Hiển có một cách nh́n đặc biệt hơn.
Sau, sư ra hoằng pháp trụ tŕ chùa Thuư Phong, Tô Châu. Năm sau sư chuyển sang chùa Tư Thánh núi Tuyết Đậu, học chúng vân tập rất đông, tông phong cực thịnh nên được tôn xưng “Tổ trung hưng tông Vân Môn”. Bởi sư ở lâu nơi núi Tuyết Đậu nên người đời sau gọi sư là Tuyết Đậu Thiền sư. Sau khi mất, thuỵ là Minh Giác Đại Sư. Đệ tử có 84 người, đứng đầu là Thiên Y Nghĩa Hoài. Tác phẩm: Minh Giác Thiền sư ngữ lục, 6 quyển.

Lời b́nh:

Người ngày nay được các quan chức, qúy nhân suy cử th́ giống như được trân bảo hiếm có ở thế gian, ngày đêm dụng tâm truy t́m danh lợi. Có thể những người này chưa nghe nói qua tiết tháo thanh cao của Tuyết Đậu Thiền sư! Tôi thường kinh ngạc sự khai thị thiền cơ của Lăo sư Tuyết Đậu, hai sự việc cây gậy và tiếng thét cùng đến một lúc, có khi như chớp điện rất nhanh, có khi như sấm sét đánh tỉnh cơn mê hoặc, không thua ǵ các trưởng lăo Đức Sơn (cây gậy của Đức Sơn), Lâm Tế (tiếng thét của Lâm Tế). Khảo cứu một đời của sư mới biết rằng, khí lượng phong cách của sư vốn không giống người b́nh thường! Làm người xuất gia, tên gọi sa-môn, thật sự không thể không lấy làm tự ái.

7.17. Bỏ thư không xem

Triều nhà Tống, tại Vũ Ninh, Chùa Diên Ân, có thiền sư Huệ An (c̣n gọi là Pháp An), và thiền sư Viên Thông Pháp Tú (c̣n gọi là thiền sư Thiết Bích, hay Thiết Diện), trú tŕ chùa Pháp Vân, ở Đông Kinh cùng tham bái, học đạo với Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài ở Việt Châu. Sau đó, Thiền sư An về cư trú trong một tu viện rách nát ở một thôn vắng, tại Vơ Ninh, một ḿnh một bóng lặng lẽ suốt 30 năm. C̣n Thiền sư Viên Thông Tú th́ vâng chiếu của Hoàng đế trú tŕ chùa Pháp Vân, hào quang soi tỏ bốn phương, khắp nơi quy y. Sau đó, sư Viên Thông Tú viết thư gởi cho Thiền sư An, muốn suy cử sư An, nhưng sư An nhận thư không đọc mà bỏ đi, thị giả đứng bên hỏi v́ sao bỏ thơ đi không xem, sư trả lời: “Ta lúc đầu cho rằng Thiền sư Tú là bậc thấu triệt, sâu sắc, cao siêu, bây giờ mới biết ông ta là một thằng ngốc. Người xuất gia phải ở trong mồ hoang hay dưới gốc cây, tuỳ chỗ yên thân, nỗ lực cần tu cầu thoát sinh tử, nhanh chóng gấp rút cứu lấy ḿnh như đang bị nguy cơ mất đầu. Ngày nay không chịu nỗ lực tu hành, duyên cớ ǵ phải ở nhà cao cửa rộng đầu đường cái lớn trong đô thị tứ thông bát đạt, nuôi dưỡng hàng trăm người nhàn rỗi chẳng có việc làm, như vậy chẳng khác nào người ngủ đă tỉnh rồi, mở to mắt mà vẫn đi đại tiện trên giường, ta lại có thể nói tốt cho ông ta sao”?

Lời b́nh:

Sư Tú đệ tử rất nhiều. Sư An chỉ sống một ḿnh. Nếu đem hoàn cảnh của họ đổi cho nhau th́ phong cách của hai người lại giống nhau. An đại sư không phải trách mắng Tú đại sư, chủ yếu là cảnh cáo người đời một chút, những người xuất gia ngu si mà thôi. Tuy nhiên, nuôi dưỡng cái chí thảnh thơi, thông thả như vậy c̣n khả dĩ. Ngày nay, chỉ nuôi dưỡng những thứ bận rộn, cả ngày bám vào chỗ dựa t́m cầu danh lợi … th́ không thể nói được nữa rồi!

7.18. Đốt b́nh bát bằng gỗ quư trước mặt sứ giả

Triều nhà Tống, tại Minh Châu, núi Dục Vương, có thiền sư Hoài Liễn, người Chương Châu. Vào giữa niên hiệu Hoàng Hữu (1049-1054), vua Tống Nhân Tông triệu sư đến khai thị Phật pháp ở Hoá Thành điện, vua rất hài ḷng, ban tặng cho sư hiệu Đại Giác thiền sư. Sư Liễn tŕ giới rất nghiêm mật. Hoàng đế có lần phái di sứ đến tặng cho sư b́nh bát làm bằng gỗ Long Năo hương, sư cầm bát đốt trước mặt sứ giả, nói: “Người học Phật chỉ mặc y phục bằng vải thô xấu, dùng b́nh bát bằng đất nung, chiếc b́nh bát này bằng gỗ Long Năo quá cao quư, xa hoa, không như pháp, không thể sử dụng”. Sứ giả trở về đem việc này tấu rơ với Hoàng đế, Hoàng đế nghe xong khen ngợi không thôi.

Lời b́nh:

Thiền sư Liễn đốt bát mà ḷng không một chút sợ hăi, Tống Nhân Tông nghe sứ giả tấu rơ sự t́nh mà không sanh ḷng giận dữ, thật đúng là điều mà người ta gọi: “Nếu như không phải là tiên sinh Nghiêm Tử Lăng th́ không thể thành tựu được cái khoan hồng độ lượng của Quang Vũ Đế; nếu như không phải là Quang Vũ Đế th́ không thể thành tựu được cái tiết tháo thanh cao của Nghiêm tiên sinh”! Khó mà biết được có phải là giai thoại của lịch sử Thiền tông hay không!

7.19. Nhân quả tu hành

Người xuất gia đời này giữ giới tu phước, nếu như chưa minh tâm kiến tánh, nguyện lực lại nhỏ bé, mong manh, lại không cầu sanh Tịnh độ, th́ người này kiếp sau sẽ được quả báo giàu sang phú quư rất nhiều. Nhưng cũng có nhiều người bị phú quư vinh hoa mê hoặc, thậm chí tạo nghiệp ác, đọa lạc trong ba cơi. Có một vị Ḥa thượng xua tay không tin những lời tôi nói. Thấy vậy, tôi nói tiếp, khỏi phải bàn luận đến kiếp sau, trước mắt tôi đă thấy có một người xuất gia, sống ở trong một am tranh, phía Bắc dăy Phong Sơn, kiên tŕ tu tập, tinh tấn, gian khổ 10 năm. Sau đó, thiện nam tín nữ biết được, rất ngưỡng mộ, tôn sùng, giúp ông ta xây dựng một tịnh xá riêng bên ngoài, mời ông ta đến ở đó, cúng dường lâu ngày, cuối cùng, ông ta bị ch́m đắm trong danh văn lợi dưỡng, một chút đạo hạnh tu tập khổ cực trước đây cũng hoàn toàn tiêu rụi, hiện đời đă thấy rơ ràng cần ǵ phải nói đến kiếp sau? Vị Ḥa thượng kia hỏi tôi nói vị Tăng đó là người nào? Tôi trả lời: “Chính là lăo huynh đấy chứ ai”! Lăo Ḥa thượng nghe xong im lặng không nói năng ǵ.
Có người xuất gia nh́n thấy người ta phú quư hiển đạt, sanh tâm ước ao, thèm muốn, hy vọng có thể được như họ; cũng có người xuất gia xem thấy người ta hiển đạt, phú quư sinh tâm chán ghét, dường như không đếm xỉa đến. Cả hai hạng người xuất gia này đều không đúng. V́ sao? Bởi v́ chỉ biết ước ao giống như người ta mà không biết rằng kiếp trước người ta là người xuất gia tu hành khổ hạnh, làm phước, cúng dường, bố thí rất nhiều. Nếu ḿnh ngày nay cũng làm phước, bố thí, cúng dường, th́ không cần phải ước ao ǵ hết, ngày sau ắt được phước báo giàu sang phú quư. C̣n chỉ biết chán ghét người ta, mà không biết rằng sự tu tập khổ hạnh của ḿnh bây giờ, quả báo đời sau sẽ được làm quan, có địa vị danh lợi như người ta! Thế th́ v́ sao phải chán ghét? Nếu như chưa thoát ly được sanh tử th́ vẫn c̣n trao đổi, luân hồi hỗ tương cho nhau, giống như đào giếng th́ có nước. Nghĩ đến sự sống chết không dừng này, có thể không khiến cho ḷng ớn lạnh sao? V́ vậy, phải nhất tâm hướng thượng, dũng mănh tinh tấn tu hành, không để một phút một giây lăng phí, ra khỏi tam giới, liễu thoát sanh tử, đâu có rănh công phu để đi mơ ước hay chán ghét người ta?

7.20. Thích đồ cổ

Có một số người ưa sưu tầm đồ cổ, tụ tập lại một chỗ, mỗi người đem đồ cổ ḿnh sưu tập được ra so sánh với nhau. Có người đem đồ cổ từ đời nhà Nguyên, nhà Tống hay từ thời Ngũ Đại ra, mọi người xem xong đều cười anh ta. Thấy bị cười v́ niên đại các món đồ cổ của ḿnh c̣n quá ít, liền sinh tâm phiền năo. Tiếp theo có người đem đồ cổ từ đời nhà Đường, nhà Tấn, nhà Hán, nhà Tần, thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu). Chỉ tiếc là không có được cái nồi của Cao Tân Thị, cái khoan của Toại Nhân Thị, cây đàn Cầm của Thần Nông, cây đàn Sắt của Thái Hạo, đá năm màu để vá trời của Nữ Oa… Trong số những người đó có một người nói: “Những đồ cổ của các anh sưu tầm cũng là rất cổ, nhưng mà không phải là thượng cổ, lại càng không phải là thượng cổ trong số những số thượng cổ”. Mọi người nói: “Như vậy là mặt trời và mặt trăng sao”? Người ấy nói: “Không phải, trước có thiên địa rồi sau mới có mặt trời mặt trăng”. – “Như vậy là trời đất chăng”? Người ấy lại nói: “Không phải, có hư không rồi mới có trời đất”. - “Vậy là hư không chăng”? Người ấy lại đáp: “Không thể nói được! Rất cổ. Đồ cổ của ta sưu tập được từ khi mặt trời mặt trăng chưa sinh ra, trời đất chưa thành lập, trước cả kiếp không. Các vị không tiếc ngh́n vàng mua lấy một cái lư, một cái bát, một cuốn thư pháp… mà không biết coi trọng các vật tối cổ, tối bảo, quư hiếm này th́ thật là uổng phí một kiếp chơi đồ cổ! Mọi người nghe rồi nh́n nhau im lặng không biết nói ǵ.
Không lâu, có người nói: “Vật hiếm là quư, đồ cổ của Ngài mọi người ai cũng có như nhau, không phải chỉ một ḿnh Ngài có, th́ quư báu chỗ nào”? Người ấy trả lời: “Đại gia nói không sai, nhưng mà chỉ hơi ngu, ngu và không có không phải hai, cho dù là tôi có một ḿnh cũng không phải sai”. Người kia lại hỏi: “Đồ cổ chúng tôi thấy rơ ràng trước mắt, có thể xem xét được, c̣n đồ cổ của Ngài đâu?”. Người ấy đưa hai tay ra cho mọi người xem(1). Mọi người lại nh́n nhau, không hiểu ǵ.

7.21. Hộ pháp

Mọi người đều biết rằng, đem giáo pháp của Phật truyền bá ra bên ngoài, kết giao với Vương công Đại thần là công tác hộ pháp. Nhưng không biết rằng, làm người xuất gia là việc hộ pháp chủ yếu nhất, việc này không thể không cẩn thận! Hộ pháp có ba điều: một là, xây dựng Chùa viện và tạo chỗ ở cho người tu hành; hai là truyền bá, tuyên dương Phật pháp; và ba là, khích lệ mọi người phát tâm xuất gia. V́ sao nói phải cẩn thận? Ví dụ, lấy điều thứ nhất để nói, xây dựng chùa viện bảo hộ người tu hành, nếu như tài sản xưa nay vốn thuộc sở hữu của chùa viện, bị người ta dùng bạo lực xâm chiếm, nay lấy lại trả cho chùa viện, đây là việc làm hợp lư. Nếu như tra xét hồ sơ, quyền tài sản không rơ ràng, năm tháng lại quá xa, hiện tại quyền sở hữu đă đổi cho người khác, chúng ta nhờ quyền thế để đoạt lại có được không? Vui vẻ hỷ xả đi mới là điều tốt đẹp nhất, thế lực người ta không bằng bạn, miễn cưỡng trả lại cho bạn, đó gọi là chỗ tụ tập oán nghiệp. Nếu như người xuất gia chỉ khuyến hoá các đại quan có thế lực, bảo người ta làm những việc công đức lớn, để tu sửa chùa viện cũ, mà không nghĩ đến rằng Phật pháp vốn b́nh đẳng đối đăi với tất cả chúng sanh, người b́nh dân cũng phải cho họ có cơ hội tích tập góp công đức chứ, không nên chỉ hướng đến những người quyền quư để hoá duyên! Lại nữa, nếu như dùng thế lực bóc lột tiền bạc và sức lực của trăm họ để xây dựng chùa tháp, th́ cho dù chùa tháp có rộng hơn ngàn mẫu, cao đến chín tầng mây, dùng gốc chiên đàn để xây dựng, dùng trân châu bảo ngọc để trang hoàng, th́ Phật cũng chỉ thương chúng sanh đau khổ mà thôi, không thể hoan hỷ được. Những việc làm này không có công đức, ngược lại có tội, không thể không cẩn thận! Đây là điều thứ nhất. Thứ hai, nói về việc truyền bá Phật pháp, nếu như trước tác hoặc giảng giải kinh điển, xa th́ hợp với tâm Phật, gần th́ khế hợp với yếu chỉ của kinh điển, chúng ta tán thán và truyền bá, tuyên dương việc đó. Điều này th́ hợp lư. Nếu như thuyết pháp hoặc sáng tác mà giống như ngoại đạo, vọng kiến, tà thuyết, hoặc thấy biết nông cạn, lệch lạc, chúng ta phản đối và không chấp nhận cho lưu truyền. V́ sao? Nếu như người xuất gia lúc có sáng tác, trước thuật chỉ cố t́m cầu những nhân vật to lớn viết cho lời tựa, lời bạt, mà không nghiên cứu, suy nghĩ xem nội dung trước tác có hại cho người đời sau hay không, nếu có, không chỉ không có công đức mà c̣n có tội, không thể không cẩn thận! Đây là điều thứ hai. Điều thứ ba là, khích lệ người xuất gia. Nếu như người xuất gia này thật tu thật học, thực sự muốn được khai ngộ, có học vấn và có trí tuệ cao th́ nên cúng dường họ. Người xuất gia phải có chánh tri kiến, tu học đến nơi đến chốn, nghiêm tŕ giới luật, tu hành thâm hậu, th́ nên tín ngưỡng họ, gần gũi họ. Đây là điều hợp lư. Nếu như xuất gia là người giả trang thiền tướng, biểu hiện bên ngoài, mà bên trong không có đức độ của kẻ học thiền, xấu xa bỉ ổi, lại hạ lưu, cũng tôn kính họ, thân tín họ, có được không? Chẳng hạn người xuất gia thân cận, t́m chỗ dựa nơi những người phú quư, hy vọng họ che chở cúng dường, ưa dùng tơ lụa, cẩm tú cao quư để che đậy cái thân thể hôi thối… th́ có nên thân cận hay không? Không nên! V́ sao? V́ làm vậy chỉ là tăng thêm độc tính vào trong cơ thể của họ, không chỉ không có công đức, trái lại c̣n có tội, không thể không cẩn thận! Đây là điều thứ ba. Nếu giống như đây, th́ Vương công Đại thần duy tŕ ủng hộ Phật pháp, mà người xuất gia trái lại phá hoại Phật pháp, thật đáng buồn thay!.

7.22. Xuất gia

Người mới phát tâm xuất gia, tuy chí nguyện có lớn nhỏ khác nhau, nhưng ít nhiều đều có tâm đạo. Nhưng một thời gian sau, lại bị lợi danh, nhân duyên làm cho ô nhiễm. Tiếp đến lại kiến tạo chùa chiền, tu sức y áo, mua ruộng vườn, kinh doanh bất động sản, thu nhận đồ đệ, nuôi người ăn kẻ ở, cất giữ tiền bạc, dồn sức đi làm việc đời, đi t́m chỗ nương tựa, th́ giống như người thế tục chẳng khác nhau. Trong kinh Phật có nói: “Một người xuất gia tu hành, Thiên ma ba tuần phải lo sợ”. Bây giờ vị Tăng đă biến thành người thế tục như vậy, Ma ba tuần có thể lấy rượu uống chúc mừng. Người phát tâm bồ đề xuất gia, việc trước hết phải biết một điều như vậy. Tôi đă từng thấy một vị sa-môn tu hành khổ hạnh trong rừng sâu núi thẳm, một khi xuống núi, bị những thiện nam tín nữ quy y cúng dường, lâu ngày liền mất đạo lực, sống một đời hèn hạ, huống hồ những người xuất gia tu tập đă quá tồi tệ! Người xưa có nói, sau khi xuất gia, nhất định phải ra khỏi nhà phiền năo, phải cắt đứt mọi sự trói buộc ân t́nh cuộc đời, đó là xuất gia sau khi xuất gia. Xuất gia trước khi xuất gia th́ dễ, xuất gia sau khi xuất gia mới là khó khăn. Tôi làm mấy việc này, rụt rè thận trọng, thấp thỏm lo âu, sợ phạm lỗi lầm đă thuật ở trên!

TỔNG LUẬN

Chương trước ghi chép hạnh Trung thần của các cao Tăng, chương này ghi chép hạnh Cao thượng. Hoặc có người hỏi: “Hạnh Cao thượng mới nói đây như vậy có tương phản với hạnh Trung thần không”? Không phải như vậy! Cần phải xem chỗ lập trường sao rồi mới nói! Ở trong rừng núi hang động khổ tu thành tựu, đạo phong vang khắp muôn nơi, triều đ́nh nghe danh mời thỉnh, nếu như có nhân duyên, lời nói thích hợp, trên có thể độ được vua, dưới có thể độ được trăm họ, đây không phải là việc làm chân chính hoằng pháp lợi sanh sao? Chỉ sợ rằng đạo nghiệp tu hành không tốt, hạ thấp nhân cách của ḿnh đi t́m cầu vinh hoa phú quư làm cho người xuất gia mất mặt thôi! Ôi, người xuất gia phải lấy tu hành làm sự nghiệp, tự tàm tự quư, nhân đó khiến cho Quốc vương và Đại thần biết rằng trong thiên hạ có những người xuất gia vui đạo tu hành, vứt bỏ danh lợi mà tán thán, ước ao họ, như vậy hạnh Trung quân rất nhiều, việc ǵ nhất định phải đối mặt tŕnh thuật, dâng lời khuyên gián mới gọi là Trung? Cho nên, tôi đă ghi quốc sư Huệ Trung ở Nam Dương được bảy đời Hoàng đế tôn sùng, và Thiền sư Vô Nghiệp ba lần từ chối chiếu lệnh của Hoàng thượng triệu vào cung, tuy hai người chỗ tao ngộ và phương thức hành động không giống nhau, nhưng đạo nghiệp của họ th́ cao quư như nhau, đều là những vị có hạnh Trung quân.
_____________________
(1) Tân-đầu-lô bạt-la-đọa-xà (Piṇḍola-bhāradvāja) là Tôn giả thứ nhất trong 16 vị La Hán, tức La hán Bạch Đầu Trường Mi. Tân-đầu-lô phiên âm là ‘Bất động’, Bạt-la-đọa-xà là họ, dịch là tiệp tật (thấy được bệnh), lợi căn… thuộc một trong 18 ḍng họ Bà-la-môn. Cứ kinh Tân-đầu-lô đột-la-xà v́ vua Ưu-đà-diên thuyết pháp, Thập tụng luật quyển 37: Ngài nguyên là con của Vương phủ tướng Ưu-điền. Tuổi nhỏ xuất gia học đạo, chứng quả A-la-hán, có thần thông. Nhân v́ hiển thị thần thông trước mặt người đời, cho nên bị Phật quở trách, không cho ngài ở Diên-phù-đề, mà sai đến Châu Tây-cù-da-ni để giáo hóa. Sau đó cho trở về lại, nhưng không cho ngài nhập Niết-bàn, mà sai ngài ở măi trên núi Ma-lê thuộc Nam Thiên để hóa độ chúng sanh, v́ tứ chúng thời mạt pháp làm phước. Theo Tứ phần luật, cuốn 53, ghi: Thế Tôn ở tại nước Câu-đà-di, vua Ưu Điền là tri thức thân hậu của Tân-đầu-lô, buổi trưa vua thường đến thăm hỏi. Bấy giờ có một đại thần Bà-la-môn không tin Phật pháp, thấy Tân-đầu-lô không đứng dậy đón vua, bèn dùng ác tâm nói lời chỉ trích với vua. Vua nói: ‘Sáng ngày mai ta đến, nếu không đứng dậy nghinh đón th́ sẽ lấy mạng’. Sáng hôm sau Tân-đầu-lô thấy vua từ xa đến bèn đứng dậy đón. Vua hỏi: ‘Hôm nay v́ sao ngươi đứng dậy đón ta?’. Ngài đáp: ‘V́ vua cho nên đứng’. Vua hỏi : ‘Hôm qua v́ sao không đứng?’. Ngài lại đáp: ‘Cũng v́ vua’. Vua hỏi: ‘Sao lại v́ ta?’. Ngài đáp: ‘Hôm qua vua đến đây với thiện tâm, hôm nay vua đến đây mang tâm niệm ác, nếu tôi không đứng th́ sẽ mất mạng. Nếu tôi mất mạng vua ắt hẳn bị đọa địa ngục. Nếu tôi đứng dậy đón, vua sẽ mất ngôi. Thà rằng để vua mất ngôi chứ không muốn vua đọa địa ngục. V́ vậy cho nên đứng’. Vua nói: ‘Mấy ngày nữa mất ngôi?’. Ông trả lời bảy ngày sau sẽ mất ngôi. Quả nhiên, đến ngày thứ bảy, vua nước Uư Thiền, Ba-la-thù-đề, đến cướp ngôi, bắt Ưu Điền bỏ tù 7 năm.
(2) Theo Tống Cao Tăng truyện, sư thâm nhập được cái thế của Ngưỡng Sơn, đốn ngộ được cái tâm của Trực Hạ.
(3) Trọng Hiển lúc mới gặp Trí Môn Quang Tộ, hỏi : “Một niệm không khởi v́ sao nói có tội?”, Môn Tộ gọi đến gần đánh cho một cây phất trần. Hiển mới định nói lời ngăn, lại bị đánh, ngay đó hốt nhiên khai ngộ, không nói một lời.
(4) Phật tánh vô thỉ, vô chung. Điều mà họ nói là vật có từ trước kiếp không. Phật tánh không thể không thấy. Đại thiên thế giới, h́nh h́nh sắc sắc, đều là Phật tánh. Có thể nơi mỗi h́nh sắc thấy được Phật tánh, th́ nơi hai tay đưa ra cũng thấy được. Nếu lúc đưa hai tay ra mà không thấy th́ muôn h́nh muôn sắc cũng không thấy.

Trang trướcTrang tiếp

Chương 7

TÔNG LÂM TẾ
Tiểu sử đại sư Liên Tŕ
Thiền Sư Băng Hoài Tế Năng Thị Chúng
Thời gian không có già
Thơ và Thiền
Tựa
Sống thong dong
Lời tựa
Lời nói đầu
Kính chuông như kính Phật
Không có đạo tâm
Hai thanh kiếm
Hạt cải chứa núi Tu-di
Chương 9
Chương 8
Chương 6
Chương 5
Chương 4
Chương 3
Chương 2
Chương 10
Chương 1
Bản lai diện mục
Ăn mày và thiền


GIÁC HỔ TẬP

GIÁC HỔ TẬP

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA

Giai thoại thiền

Giai thoại thiền

Giai thoại thiền
Website: http://chuavanhanh.free.fr
Email: chuavanhanh@free.fr