Hiện đang có 2 người 
0 thành viên
 Số lần viếng  : 
Đăng nhập 
Email
Mã số 
Thành viên mới ?
Quên mã số ?
Trang chủ
Tin tức
 Kinh Điển
Phật học
 Chuyện đời - Chuyện đạo
 Lời Phật dạy
 Phật đản
 Phật học thường thức
 Phật pháp căn bản
 Tịnh Độ
 Vu Lan
 Từ điển Phật học
Truyện tích Phật Giáo
 Thơ văn
Phim
 Âm nhạc Phật giáo
H́nh ảnh
Thư tín
Pháp thoại
Trang tuởng niệm
 
KHÁI NIỆM YOGA TRONG PHẬT GIÁO

Du-già (Yoga), trong quá khứ xa xưa, vốn là một phương pháp tu hành của các tín đồ thuộc nhiều tôn giáo ở Ấn độ. Phạn ngữ Yoga, mà tiếng Tây tạng đọc là Rnal-ḥbyor, có nghĩa là ‘tương ưng’, tức là dùng phương pháp điều hoà hơi thở để nhiếp tâm khiến cho đạt được trạng thái tương ưng với chánh lư.

Yoga là một danh từ nam tính phái sinh từ gốc động từ √yuj, bao hàm các nghĩa liên tiếp, tiếp hợp. Thuật ngữ này được t́m thấy trong các sách thuộc thời đại Lê-câu-phệ-đà (Ṛg-veda) và Áo nghĩa thư (Upaniṣad), nó ám chỉ phương pháp điều hoà hơi thở và quán sát nhằm đạt đến lư tưởng ‘Ngă Phạm nhất như’ (hiệp thông với Phạm thiên). Như vậy, trong tôn giáo và triết học Ấn độ xa xưa, việc tu tập nhằm kết hợp với Phạm thiên hoặc sẽ cộng trú với Phạm thiên được gọi là Yoga.

Trước khi Siddhārtha thành Phật, Ngài đă từng thực tập phương pháp này với các bậc thầy Yoga như Ārāḍakālāma, UdrakaRāmaputra. Sau khi thành Phật, Ngài cũng sử dụng phương pháp này làm tiền đề cho các pháp môn tu tâm, tu tuệ mà Ngài đă khám phá ra, nhưng Đức Phật sử dụng phương pháp điều hoà hơi thở không nhằm đến chứng đắc các tầng thiền và càng không phải để cộng trú với Phạm thiên mà hướng tâm đến tuệ quán duyên khởi nhằm chứng đắc các thánh quả vượt ra ngoài ba cơi.

Đến thời kỳ Phật giáo bộ phái, ở Ấn độ có ra đời trường phái Du-già hành, sau truyền sang bên Tàu h́nh thành tông Duy thức. Tông phái này sử dụng từ Yoga để chỉ cho sự tương ưng của tâm. Có thể nói, đến thời kỳ Phật giáo bộ phái, đặc biệt là trường phái Du-già hành, từ Yoga đă không c̣n mang ư nghĩa là phương pháp điều hoà hơi thở nữa mà nó chỉ cho sự ‘tương ưng của tâm’. Nói khác đi, trong quá tŕnh phát triển, Phật giáo đă định nghĩa lại khái niệm Yoga trong tư tưởng tôn giáo Ấn độ cổ xưa, đưa vào trong nó những khái niệm mới, mà chủ yếu là kỹ năng luyện tập và chuyển hoá tâm chứ không phải là những kỹ thuật uốn nắn thân thể như là những bài tập thể dục thể h́nh hay những nghi thức cúng lễ mà ta thấy và ngộ nhận về Yoga hay thiền Yoga như xưa nay!

Theo kinh Giải thâm mật , quyển 3, phẩm phân biệt Du-già giải thích th́, chủ thể của Du-già là Chỉ (Samatha) và Quán (Vipaśyanā). Trong đó, Samatha lấy sự không phân biệt ảnh tượng làm sở duyên khiến cho tâm đạt đến cảnh giới hoàn toàn tịch tĩnh, b́nh đẳng; Vipaśyanā lấy sự có phân biệt ảnh tượng làm sở duyên để quán sát cùng khắp nhằm đạt được sở tri nghĩa. Mặt khác, về phương diện Kiến đạo, Chỉ Quán phải song vận, lấy sự biên tế của tất cả pháp làm sở duyên để chứng đắc ; về phương diện Tu đạo th́ phải tiến đến sự tu tập Chỉ Quán b́nh đẳng ; đến quả vị Phật th́ lấy sự thành tựu viên măn Sở tác trí làm sở duyên để bắt đầu chuyển đắc Pháp thân thanh tịnh. Như vậy, Chỉ và Quán làm chủ hết mọi quán hạnh, và v́ vậy mà gọi là Du-già.

Trong cuốn Du-già sư địa luận thích , giải nghĩa từ Yoga là bao gồm các pháp cảnh, hành, quả của tất cả các Thừa, nó cũng bao hàm ư nghĩa phương tiện thiện xảo, tương ưng với các pháp. Theo đó, Viên trắc, trong cuốn Giải thâm mật kinh sớ , quyển 6, đă phân biệt thành bốn nghĩa Du-già, là cảnh, hành, quả và giáo :

1. Cảnh Du-già : là hết thảy cảnh không có tính điên đảo, không có tính chống trái nhau, mà nó có tính hay tùy thuận, tính xu hướng cứu cánh, cùng hợp với giáo lư chân chính. Nó tương ứng với chính, lư, giáo, hành, quả, cho nên gọi là Yoga.

2. Hành Du-già : là hết thảy các hành tướng đều hỗ tương, hoà thuận với nhau, hợp chính lư, thuận chính giáo, hướng đến chính quả.

3. Quả Du-già : là hết thảy các quả chứng đều hỗ tương, hoà điệu với nhau, hợp với chính lư, thuận với chính giáo, xứng chính nhân.

4. Giáo Du-già : là Tam thừa thánh giáo là hợp chính lư, thuận chính hành, dẫn tới chính quả.

Trong cuốn Thành duy thức luận thuật kư , quyển 2, giải thích từ Yoga mà có nghĩa là ‘tương ưng’ là bởi v́ nó có 5 nghĩa tương ưng sau đây :

1. Tương ưng với cảnh : là bởi v́ tự tính của tất cả các pháp không trái nghịch nhau.

2. Tương ưng với hành : là v́ các hành tướng cùng tương ưng với định, tuệ…

3. Tương ưng với lư : là lư của nhị đế, gồm an lập và phi an lập.

4. Tương ưng với quả : là có khả năng đạt được quả vị Vô thượng bồ-đề.

5. Tương ưng với cơ : là khi đă chứng đắc quả viên măn rồi th́ phải thực hiện lư tưởng lợi sinh, cứu người cứu vật tuỳ theo căn cơ, tuỳ bệnh cho thuốc.

Đối với Mật tông, mà Kinh Đại nhật v.v… là nền tảng, đă phân biệt Yoga thành hai loại, hữu tướng và vô tướng.

Du-già hữu tướng là phương pháp luyện tập tâm chuyên chú vào cảnh duyên có h́nh tướng (như thân tướng của bổn tôn chẳng hạn…), trong khi quán tưởng, h́nh tướng được quán tưởng hiển hiện rơ ràng trong ư thức, duy tŕ sự chuyên chú đó lâu dài mà không tán loạn th́ đắc được định, và từ đó mà nhập vào cảnh giới định ‘vô phân biệt’, tức là thành tựu pháp tập Du-già hữu tướng.
Du-già vô tướng là phương pháp quán tưởng ‘tâm chân chật’, ĺa ngôn ngữ, không h́nh tướng, từ sự liễu ngộ tâm chân thật và trên cơ sở định tâm với tâm chân thật ấy mà đạt được ‘vô tướng tam-muội’, tức là thành tựu Du-già vô tướng.

Kinh luận của Mật tông nói rằng từ cánh cửa ‘Du-già hữu tướng’ có thể tiến vào ‘Du-già vô tướng’, và khi thành tựu ‘Du-già vô tướng’ là đạt tới cứu cánh giải thoát. Kinh Đại nhật , quyển thứ 7, ghi rằng : ‘Pháp vô tướng rất thâm sâu, kẻ liệt huệ không thể nào kham nhậm được, nhưng v́ muốn cho kẻ ấy cũng được pháp b́nh đẳng nên đă phương tiện mở bày Pháp hữu tướng’. Đoạn kinh này, như vậy, đă minh thị Hữu tướng du-già chỉ là phương tiện dành cho những người trí tuệ kém cơi, không đủ khả năng tiếp nhận trực tiếp pháp tu Vô tướng du-già.

Một số người cho rằng, thành tựu pháp Hữu tướng du-già chỉ có khả năng trị liệu được một số bệnh, đánh đuổi ma quỷ… tức là những thành tựu khiêm tốn. Nếu như có thể tiến xa hơn, thành tựu được pháp Vô tướng du-già th́ mới có khả năng kéo dài tuổi thọ, chứng đắc thần thông…
Những hành giả Du-già như Nhất hạnh, tác giả cuốn Đại nhật kinh sớ, Tsoṅ-kha-pa (Tông-khách-ba), tác giả cuốn Mật tông đạo thứ đệ luận… đều nhấn mạnh sự tu tập tuần tự, tiệm tiến, trước hết phải tu Hữu tướng du-già, cho đến khi được thành tựu rồi th́ ở trong định tâm mà khởi tu quán, quán ngược trở lại tự tâm th́ sẽ thấy, cái thấy đó sẽ là sự ngộ ra rằng tự tính vốn không, ngay đó là chứng nhập Vô tướng du-già.

Trong Mật giáo họ cũng nói đến thuyết ‘tam mật Du-già tương ưng’. Theo đó, họ cho rằng, ‘tam mật Du-già tương ưng’ cũng giống như ‘tam-muội tương ưng’, tất cả đều thuận với chính lư. Đại nhật kinh sớ, quyển 3, ghi rằng: “Khi vị giáo thọ (a-xà-lê) đă chứng đắc pháp Du-già th́ bất cứ việc làm ǵ cũng đều tương ưng với tam-muội. Chẳng hạn, khi vị ấy dâng hoa cúng Phật, th́ việc dâng hoa ấy hoàn toàn ở trong định, cho nên gọi là ‘hoa tam-muội tương ưng’, trong trạng thái tương ưng với định ấy, vị Bổn tôn hiển hiện rơ ràng trước mắt. Nếu vị ấy cúng hương, đèn, nước… th́ việc làm ấy cũng tương ưng với định, gọi là hương tam-muội, đèn tam-muội, nước tam-muội… mỗi mỗi việc làm tương ưng với định th́ vị Bổn tôn cũng theo đó mà hiển hiện rơ ràng trước mắt. Như vậy, trong mỗi một duyên, mỗi một điều kiện đều là cánh cửa để đi vào pháp giới, đều thấy được thiện tri thức, vận dụng xoay tṛn như vậy đều cùng tương ưng với chính lư, không cần phải đợi đến khi gặp sự mới bắt đầu khởi quán. Nên biết rằng, người ấy (tức vị giáo thọ đă chứng Du-già) đă có thể thực hành pháp bí mật của một A-xà-lê.

“Người nghiên cứu và thực tập pháp Du-già cũng là người khéo léo tu tập pháp tương ưng. Nghĩa là, đối với ba bộ chân ngôn , thượng, trung, hạ mỗi mỗi bộ đều thành tựu thông đạt, đều tương ưng với chính lư, th́ gọi là ‘Thiện tu du-già’.

“Lại nữa, trong pháp Tức tai (dứt trừ tai hoạ), có thể sử dụng pháp tu này để làm phương tiện tu tập pháp Tăng ích, Hàng phục. Hoặc trong pháp Tăng ích, cũng có thể sử dụng để làm phương tiện tu tập pháp Hàng phục, Tức tai. Trong pháp Hàng phục cũng có thể sử dụng để làm phương tiện tu tập pháp Tức tai, Tăng ích. Có nghĩa là, pháp này tương ưng với pháp kia, các pháp tương tức với nhau, nếu người nào có thể khéo léo phân biệt được th́ gọi là ‘Thiện tu du-già’”.

Ngoài ra, chúng ta c̣n có khái niệm Du-già sư để chỉ cho những người tu tập, thực hành các pháp quán hạnh Du-già đă chứng thiền định tương ưng; phương pháp quán hạnh đó gọi là Du-già hành; giai vị tu hành mà hành giả tu tập quán hạnh Du-già chứng được gọi là Du-già sư địa. Mật giáo lấy tam mật Du-già làm tông, nên gọi một cách tổng quan là Du-già giáo.

Theo Ấn thuận, từ Du-già sư vốn chỉ cho những thiền sư, là những đệ tử của Đức Phật thời cổ đại, chứ không phải để chỉ cho những giáo đồ Phật giáo thời kỳ sau này chuyên lo việc lễ bái, cúng kiến, xem việc thực hiện nghi lễ như là phương pháp tu hành. Trong quá khứ, những bậc thầy Du-già là những người ngoài việc chuyên học kinh, luận, tŕ giới ra, họ chủ trương, đối với tự thân th́ ‘tinh cần thiền quán’, đối với tha nhân th́ ‘đem giáo pháp để giáo hoá’. Thiền quán là sự tu tập quán chiếu ngay nơi thân tâm ḿnh để thể nghiệm sự thật. Sự tu tŕ mà đạt đến cảnh giới Chỉ Quán tương ưng, tâm cảnh hoặc lư trí tương ưng, khế hợp nhau th́ gọi là Du-già. Du-già như vậy có nghĩa là tương ưng. Mặc dù đây là một trong những pháp tu tất yếu của những đệ tử Đức Phật, nhưng v́ căn tánh, sở thích… mỗi người khác nhau, cho nên thời xưa phân khoa từng ban giáo thọ gồm có Kinh sư, Luật sư, Luận sư, Du-già sư… để giảng dạy cho phù hợp đối tượng. Ban Du-già sư là những thầy chuyên tu tập pháp Du-già, nhưng những thầy trong ban Kinh sư không phải không tu thiền quán, thầy Du-già không phải không học kinh, luận.

Số lần xem: 647
Phật học thường thức
KHÁI NIỆM YOGA TRONG PHẬT GIÁO
Thích Nguyên Hùng
2013-04-22
VỊ PHẬT TƯƠNG LAI & NGÀY TẬN THẾ
Thích Nguyên Hùng
2013-03-13
THÂN BỆNH, TÂM KHÔNG BỆNH
Viên Ngộ
2012-12-14
BÁT QUAN TRAI-GIỚI
Thích Tuệ Sỹ
2012-03-22
CHÚ ĐẠI BI CÓ BỊ IN THIẾU HAY KHÔNG ?
Hạo Nhiên
2012-03-12
Vài nét về Kim Cang Thừa
Hạo Nhiên
2012-02-26
Tâm không vướng bận
Thích Tịnh Không
2012-02-08
Tâm không vướng bận
Thích Tịnh Không
2012-01-06
YẾU TỐ MẬT GIÁO TRONG HAI THỜI CÔNG PHU
Thích Nguyên Hùng
2011-12-07
Không có ǵ để vội vă
Thích Thái Ḥa
2011-12-03
Tâm không vướng bận
Thích Tịnh Không
2011-11-16
Tâm không vướng bận
Thích Tịnh Không
2011-10-17
Tâm không vướng bận
Thích Tịnh Không
2011-08-31
Tâm không vướng bận
Thích Tịnh Không
2011-08-03
OÁN GIA
Thích Nguyên Hùng
2011-07-08
Tâm không vướng bận
Thích Tịnh Không
2011-07-03
Pháp phục Phật giáo truyền thống
Thích Nguyên Hùng
2011-05-28
BẢY BƯỚC ĐI AN LẠC
Thích Nguyên Hùng
2010-11-09
DUY TÂM TẠO
Trần Chánh Trực
2010-06-24
AN CƯ – NGUỒN MẠCH TÂM LINH
Thích Nguyên Hùng
2010-06-15
MÙA XUÂN 2010
Trần Chánh Trực
2010-04-01
VÔ MINH VÀ VĂN MINH
Thích Đồng Ngộ
2010-02-19
VỊ GIẢNG SƯ CHÂN CHÁNH
Thích Nguyên Hùng
2009-11-02
THÂN CẬN THIỆN SĨ
Thích Nguyên Hùng
2009-11-02
HỌC VỊ NHÂN SƯ - HÀNH VI THẾ PHẠM
Tịnh Không Pháp sư
2009-10-21
ĐẠO PHẬT VÀ CON NGƯỜI
Thiền sư Tuệ Luật
2009-10-14
VẠN HẠNH... MỘT CHẶNG ĐƯỜNG
Vanhanh
2009-10-07
CHỮ TÂM TRONG KINH LĂNG GIÀ
Thích Nguyên Hùng
2009-09-16
TRÁI TIM KHÔNG NÓI HẬN THÙ
Thích Nguyên Hùng
2009-07-22
GIỚI THIỆU PHẬT GIÁO
Thích Nguyên Hùng
2009-06-20
GIỚI THIỆU PHẬT GIÁO
Thích Nguyên Hùng
2009-06-19
GIỚI THIỆU PHẬT GIÁO
Thích Nguyên Hùng
2008-11-19
ĐỨC PHẬT TRONG CÁI NH̀N CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC
Góp nhặt
2010-01-19

Website: http://chuavanhanh.free.fr
Email: chuavanhanh@free.fr
;