Từ điển Phật học

Chủ trương
Thích Nguyên Lộc

Biên tập
Thích Nguyên Hùng
Viên Lợi
Tuệ Lạc


Chùa Vạn Hạnh
3 rue du Souvenir Français
44800 Saint Herblain
Email vanhanh@vanhanh.fr
Site http://www.vanhanh.fr

 Tìm theo chữ  

Tiếng Việt
Français
English
中文
Sankrit,Pali

 Tìm theo vần 
a b c e f g h i 
j k l m n o p q 
r s t u v w x y z 

 Tìm theo đề tài :
Phật và Bồ TátKinh tạngTên, địa danhTừ phật học

Song ngữ
VN-FRVN-ENVN-CHFR-VNFR-ENEN-VNEN-FR
Trang : 1  2 

Phật Di Lặc      Maitreya    Maitreya    彌勒佛    Maitreya
Vị Phật tương lai của chúng ta có tên là Di-lặc. Kinh Tạp A-hàm, ghi: “Một thời gian lâu dài ở thời vị lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi sẽ có Đức Phật hiệu là Di-lặc ra đời” (Tạp A-hàm, kinh số 66).
Di-lặc, tiếng Phạn là Maitreya, Trung Hoa dịch là Từ Thị (họ Từ). Tên Ngài là A-dật-đa (Ajita), dịch là Vô Năng Thắng (không ǵ hơn). Có khi người ta cho A-dật-đa là họ, c̣n Di-lặc là tên của Ngài.
Ngài sanh tại niềm nam nước Thiên Trúc trong một gia đ́nh Bà-la-môn. Tương truyền, Ngài là vị Phật tương lai, tiếp sau đức Phật Thích Ca, hiện đang là vị Bồ-tát bổ xứ. Khi Quang Phật nhập diệt, Ngài sanh vào nội viện cung trời Đâu Suất. Ở đó đến 4 ngàn năm (tức là khoảng 56 ức 7000 vạn năm ở cơi người), th́ hạ sanh xuống nhân gian, dưới cây Long Hoa ở vườn Hoa Lâm, và thành Chánh giác. Trong quá khứ, Ngài đă từng tu tập thành công từ tâm tam-muội, do đó mà có tên là Từ Thị. Đến khi thành Phật cũng lấy tên này.
Chú Duy Ma Kinh, quyển 1, ghi: “Di-lặc là họ của một vị Bồ-tát, tên là A-dật-đa. Người nam Thiên Trúc, thuộc ḍng dơi Bà-la-môn”. Thiên Thai Tịnh Danh Sớ, ghi rằng: “Di-lặc nghĩa Từ Thị. Trong quá khứ, ngài từng làm vua tên là Đàm-ma-lưu-chi, dùng ḷng Từ Bi để cai trị thiên hạ, nên dân chúng tôn xưng ngài là Từ Thị. Từ đó trở đi, ngài luôn mang tên Từ Thị, họ là A-dật-đa, tức là không ǵ hơn”.
Câu Xá Quang Kư, quyển 18, ghi: “Maitreya dịch nghĩa là Từ Thị. Đó là vị Bồ-tát sinh ra từ ḷng từ bi, cho nên gọi tên như vậy”.

Phật Thích Ca Mâu Ni      Bouddha Shākyamuni     Sākyamuni Buddha    釋迦牟尼    Sākyamuni Buddha
Đây là danh hiệu của Thái tử Tất Đạt Đa Cồ-đàm (sa. siddhārtha gautama, zh. 悉達多 瞿曇), người đă tự ḿnh t́m đường giải thoát và sáng lập Phật giáo.
Ḍng Thích-ca vốn là vương tộc, cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Độ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepal. Kinh đô thời đó là Ca-t́-la-vệ (sa. kapilavastu), là nơi Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha là Tịnh Phạn (sa. śuddhodana, pi. suddhodana), trị v́ tiểu vương quốc Thích-ca.

Quá khứ thất phật      sept bouddhas du passé         阿彌陀經    
7 đức Phật xuất hiện trong quá khứ, đó là:
1. Phật T́ bà thi, Vipaśyin.
2. Phật Thi khí, Śikhin.
3. Phật T́ xá phù, Viśvabhū.
4. Phật Câu lưu tôn, Krakucchanda.
5. Phật Câu na hàm mâu ni, Kanakamuni.
6. Phật Ca diếp, Kāśyapa.
7. Phật Thích ca mâu ni, Sākyamuni.

Tất Đạt Đa (thái tử)      Gautama Siddharta (prince)        悉達多    Siddhārtha
Tên của Đức Phật khi c̣n là Thái tử con vua Tịnh Phạn.
Khi Đức Phật đản sinh làm trưởng tử của vua Tịnh phạn thành Ca Tỳ La Vệ, tiên A Tư Đà xem tướng biết vị Vương tử này nhờ các thiện căn công đức ở đời trước nên có đầy đủ tướng tốt thù thắng, có năng lực thành tựu tất cả việc lành. Nếu Vương tử ở nhà th́ chắc chắn sẽ làm Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia th́ sẽ thành Vô thượng chánh giác. V́ thế, để biểu thị ư nghĩa nói trên, nên Thái tử được đặt tên là Tất đạt đa: Thành tựu tất cả mọi điều tốt đẹp.

Thập hiệu Như Lai      titres honorifiques [dix] de Shakyamuni    ten epithets of the Buddha    十號如來    Daśa balāni
10 danh hiệu của một đức Phật.

1. Như lai (Tathāgata): Đức Phật không từ đâu đến và cũng không đi về đâu, nên gọi là Như lai (vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như lai). Cũng có nghĩa: Đức Phật đến (lai) từ sự thật (Như).

Nguyên tiếng Phạn, chữ tathāgata, có thể phân tích như sau: tathā-gata (như khứ) và tathā-āgata (như lai). Do đó, nếu giải thích theo chữ đầu tiên, th́ con đường đi từ chân như mà tiến đến quả vị Phật, Niết-bàn, gọi là Như Khứ; nếu giải thích theo chữ sau, th́ do chân lư mà xuất hiện (như thật mà đến), mà thành chánh giác, gọi là Như Lai.

Phật có nghĩa là từ chân lư mà đến, do chân như mà hiện thân, cho nên tôn xưng Phật là Như Lai.
Trường A-hàm, quyển 20, kinh Thanh Tịnh, ghi: Phật từ đầu hôm thành Vô thượng chánh giác (ở Bồ-đề đạo tràng) cho đến đêm cuối cùng (ở Câu-thi-na), trong khoảng thời gian đó có nói điều ǵ, th́ tất cả những điều ấy đều như thật, cho nên gọi là Như Lai. Lại nữa, Như Lai nói sự việc như vậy, sự việc như vậy mà nói, nên gọi là Như Lai.

Luận Đại Trí Độ, quyển 55, ghi: Thực hành 6 pháp ba-la-mật, đắc thành Phật đạo, cho nên gọi là Như Lai; trí tuệ biết tất cả các pháp Như, từ trong Như mà đến, nên gọi là Như Lai.

2. Ứng cúng (Arhat, A la hán): Xứng đáng nhận sự cúng dường của người, trời.

3. Chính biến tri (Samyaksaṃbuddha, tam miệu tam phật đà): Có năng lực biết rơ đúng đắn khắp tất cả các pháp.

4. Minh hành túc (Vidyācaraṇa-saṃpanna): Có đủ ba loại trí tuệ (thiên nhăn minh, túc mệnh minh, lậu tận minh) và hành nghiệp của thân, khẩu, ư đều thanh tịnh.

5. Thiện thệ (Sugata): Dùng Nhất thiết trí làm cỗ xe lớn, đi trên 8 con đường chân chính (bát chính đạo) mà vào Niết bàn.

6. Thế gian giải (Loka-vid): Biết rơ 2 loại thế gian là Chúng sinh thế gian và Không phải chúng sinh thế gian, cho nên biết sự h́nh thành và hoại diệt của thế gian và con đường ra khỏi thế gian.

7. Vô thượng sĩ (Anuttara): Trong các pháp, Niết bàn là vô thượng, trong tất cả chúng sinh, Phật là vô thượng.

8. Điều ngự trượng phu (puruṣa-damya-sārathi): Phật là bậc Đại từ, Đại trí, có khi dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời bi thiết, tạp ngữ... dùng mọi phương tiện điều phục, chế ngự người tu hành khiến họ đến Niết bàn.

9. Thiên nhân sư (śāstā deva-manuṣyāṇāṃ): Chỉ dạy chúng sinh điều ǵ nên làm, điều ǵ không nên làm, việc này thiện, việc này là bất thiện... giúp họ giải thoát phiền năo.

10. Phật Thế tôn (Buddha-bhagavat): Tức người đă tự giác ngộ, giúp cho người khác giác ngộ, giác ngộ và sự thực hành đi đến giác ngộ đều được viên măn, thấy biết tất cả các pháp trong ba đời, cho nên được người đời tôn trọng, cung kính.

Tu đạt              須達    Sudatta
Tên của cư sĩ Cấp cô độc.
Ông là một trưởng giả sống ở thành Xá vệ, nước Kiều tát la, thuộc Trung Ấn độ xưa. Ông từng làm quan Chủ tạng sử cho vua Ba tư nặc. Tên của ông có ư nghĩa là người ưa giúp đỡ, ưa bố thí, chăm sóc người neo đơn. Vốn là một thương gia giàu có, bản tính lại nhân từ, Tu đạt thường giúp đỡ những người nghèo khổ, đơn độc, cung cấp cho họ những thứ cần dùng, cho nên được dân chúng đặt cho một biệt danh là Cấp cô độc trưởng giả. Ông có 7 con trai và 2 con gái. Nhân hôn sự của đứa con trai thứ 7, Tu đạt đă đến ở lại thành Vương xá. Tại đây, ông được bạn bè dẫn đến tịnh xá Trúc lâm để bái yết đức Phật. Trong khi nghe Phật thuyết pháp, trong ḷng Tu đạt cảm giác đạt được sự không sợ hăi, từ đó phát sinh ḷng tin sâu xa, phát nguyện quy y theo Phật, thọ tŕ 5 giới, trở thành đệ tử tại gia của Phật. Sau đó, v́ muốn thỉnh cầu Phật đến giáo hoá cho dân chúng thành Xá vệ, ông đă thỉnh cầu đức Phật cho phép tôn giả Xá lợi phất cùng về quê để giúp ông kiến tạo tinh xá. Bấy giờ, Tu đạt t́m kiến khắp nước chỉ thấy khu vườn ngự uyển ở phía nam thành phố do thái tử Kỳ đà làm chủ là có đủ điều kiện để làm tinh xá, ông bèn t́m cách hỏi mua và đă mua được với giá trải vàng khắp cả khu vườn. Tịnh xá được xây dựng bao gồm hai lớp, nội viện gồm có 16 toà đại viện; ngoại viện gồm 60 pḥng tăng bao quanh đại viện, và đặt tên là Kỳ thọ Cấp cô độc viên. Đây là tu viện mà đức Phật đă an cư nhiều mùa hạ nhất.
Ngoài ra, Tu đạt c̣n khuyến khích cho cả gia tộc quy y theo Phật, cho nên trong gia đ́nh này pháp âm không bao giờ gián đoạn. Sau, ông mang trọng bệnh, tôn giả An nan, Xá lợi phất đến thăm bệnh và thuyết pháp cho ông nghe, ngay đó ông mạng chung, sinh lên cơi trời Đâu suất.
Để biết thêm cuộc đời ông cư sĩ này, xin mời đọc thêm Kinh Hiền ngu, Kinh Trung a hàm quyển 6, quyển 39, Kinh Tăng nhất hàm quyển 49, Kinh Tạp a hàm quyển 37...

Vạn hạnh thiền sư      Maître Zen Van Hanh        萬行禪師    
Là tên một vị Thiền sư lớn của Việt Nam. Thiền sư họ Nguyễn, người châu Cổ Pháp, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức (nay là làng Đ́nh Bảng, Thuận Thành, Bắc Ninh), xuất thân trong một gia đ́nh đời đời tín Phật. Thuở nhỏ, ngài đă có tư chất khác thường, tinh thông Tam học, nghiên cứu trăm luận, xem thường công danh. Năm 21 tuổi, xuất gia với Thiền Ông ở chùa Lục Tổ. Sau khi thầy qua đời, Thiền sư dốc chí luyện tập môn Tổng tŕ Tam-muội, từ đó lời nào ngài nói ra cũng đều rất ứng nghiệm.

Hoàng đế Lê Đại Hành (980-1005) rất mực kính mộ Thiền sư, vua nhiều lần thỉnh ngài vào triều để bàn bạc quốc sự, tham vấn kế sách đối phó với giặc Tống ở phương Bắc cũng như giặc Chiêm Thành ở phía Nam. Thiền sư Vạn Hạnh chính là người đă dày công giáo dưỡng Lư Thái Tổ (1010-1028) ở trong chùa từ nhỏ, lúc vua c̣n là chú tiểu Lư Công Uẩn, theo nghĩa phụ Lư Khánh Văn đến chùa Tiêu Sơn học đạo.
Khi thấy Lê Long Đĩnh (1005-1009) bạo ngược, trăm họ sống trong cảnh lầm than, bấy giờ Lư Công Uẩn đang giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ nhà Lê, Thiền sư đă vận động quần thần trong triều suy tôn Lư Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập ra nhà Lư. Và về sau, cũng chính Thiền sư đă tham mưu cho Lư Thái Tổ trong việc dời đô, từ kinh đô Hoa Lư về Thăng Long, để tính kế phồn thịnh muôn đời cho dân tộc.
Ngày rằm tháng Năm năm Thuận Thiên thứ 16 (1025), khi công hạnh đă viên măn, Thiền sư gọi đồ chúng lại dặn ḍ: “Các con muốn đi đâu? Thầy không nương vào chỗ trụ để trụ, cũng không lấy chỗ vô trụ để trụ”. Rồi Thiền sư nói bài kệ:

身如電影有還無
萬物春榮秋又枯
任運盛衰無怖畏
盛衰如露草頭鋪

"Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”.

Dịch:
"Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi thu héo hon
Tùy vận thịnh suy không hăi sợ
Thịnh suy đầu cỏ có phơi sương".

Nói xong bài kệ, Thiền sư an nhiên thị tịch. Vua và sĩ thứ làm lễ trà tỳ, lượm cốt dựng tháp để thờ. Lư Nhân Tông thường có bài kệ truy tặng rằng:

"Vạn Hạnh dung ba cơi
Thật hiệp lời sấm xưa
Quê hương tên Cổ pháp
Chống gậy trấn kinh đô".

Vô trước       Essence des phénomènes est Vacuité        無著    Asaṅga
Vô trước (Asaṅga), sống vào khoảng 310-390, tổ sư phái Du-già hành (Yogācāra).
Ông là người Kiền-đà-la (Gandhāra), Bắc ấn. Ông cùng với người em là Thế thân, là hai nhân vật lịch sử trọng yếu của Phật giáo Ấn độ.
Lúc đầu, Vô trước xuất gia theo bộ phái Hoá địa (Mahiśāsaka, có thuyết nói là Tát-bà-đa bộ, Sarvāstivāda), nhưng sau một thời gian tu học ông nhận thấy giáo nghĩa của bộ phái này chưa thật sự được đầy đủ. Sau đó, ông theo học với La-hán Tân-đầu-lô (Piṇḍola) tu học phép Quán không của Tiểu thừa, mặc dù có sở đắc, nhưng ông chưa thoả măn.
Về sau, tương truyền, ông lên trời Đâu-xuất gặp Bồ-tát Di-lặc để học tập nghĩa Không của Đại thừa, từ đó ông mới thấy an tâm, đồng thời ngộ nhập được phép Quán không của ‘Duy thức vô cảnh’. Nơi Bồ-tát Di-lặc, Vô trước học được rất nhiều kinh luận Đại thừa.
Từ đó về sau tại Ấn độ mới thạnh hành pháp môn Đại thừa Pháp tướng duy thức, Thế thân trở thành một luận sư vô cùng trọng yếu trong nền triết học tư tưởng Phật giáo tiếp nối sau ngài Long thọ.
Vô trước là người đặt nền móng cơ bản và cũng là người chủ trương hoằng dương Pháp tướng duy thức tại Ấn độ. Căn nguyên của Pháp tướng duy thức học, theo như lời giới thiệu của Vô trước, là từ cuốn Du-già sư địa luận mà Bồ-tát Di-lặc giảng dạy cho ông.
Vô trước c̣n biên soạn Nhiếp đại thừa luận (Mahāyāna-saṃgraha), Hiển dương thánh giáo luận (Prakaraṇāryavācā-śāstra), Thuận trung luận, Kim cương kinh luận…



Trang : 1  2